Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2017

GX. TÂN KHAI KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ MỚI – TRẠI HÈ CỦA THIẾU NHI – LỚP ĐÀN BẢO HÀ - CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN - A




GX. TÂN KHAI KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ MỚI 










GX. TÂN KHAI KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ MỚI


ĐỨC CHA XỨC DẦU BÀN THỜ GX. TÂN KHAI KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ MỚI 















TRẠI HÈ CỦA THIẾU NHI 




LỚP ĐÀN BẢO HÀ 



TRẠI HÈ CỦA THIẾU NHI






 CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN - A
Lời Chúa: Kn. 12, 13.16-19; Rm. 8, 26-27; Mt. 13, 24-43


MỤC LỤC



1. Nụ cười.

Theo yêu cầu, một nhà đạo đức đã kể lại kinh nghiệm đời mình như sau:
-      Giai đoạn đầu tiên, tôi được Thiên Chúa cầm tay, dẫn tới xứ sở của hoạt động và tôi đã ở lại đó nhiều năm. Tiếp đó, Ngài trở lại đưa tôi đến xứ sở của niềm đau, tại đây, trái tim tôi được thanh luyện khỏi mọi dính bén với của cải trần gian. Sau đó, Ngài dẫn tôi đến miền đất của cô đơn, ở đó mọi ti tiện nhỏ bé của bản thân đều bị thiêu rụi. Và rồi tôi có thể đi vào xứ sở của thinh lặng, trước mặt tôi, mầu nhiệm của sự sống và sự chết đều được bày tỏ.
Nghe thế, người ta liền hỏi:
-      Phải chăng ngài đã đạt tới giai đoạn cuối cùng của cuộc tìm kiếm.
Nhà đạo đức trả lời:
-      Chưa đâu, ngày nọ, Thiên Chúa nói với tôi: Lần này Ta đưa con vào thẳm cung của đền thánh để con được đi vào cõi lòng Ta.
Thế là tôi đã đến xứ sở của nụ cười.

Người Tây phương thường bảo: Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn vậy. Niềm vui phải chăng là nét chính yếu trên khuôn mặt của một vị thánh.

Cựu Ước đã nói: Thiên Chúa là Đấng làm hoan lạc tuổi xuân con. Sở dĩ như vậy vì Ngài là niềm vui. Đi vào cõi lòng của Ngài là tìm được nụ cười muôn thuở của Ngài. Nụ cười không chỉ là thể hiện của niềm vui, mà còn là một thách thức trong những hoàn cảnh bi đát. Đó là nụ cười của Sara giữa cảnh già nua con sẻ. Thực vậy, khi Thiên Chúa cho biết bà sẽ thụ thai, mặc dù tuổi đã cao, thì bà đã bật cười.

Thiên Chúa thường khơi dậy những nụ cười như thế, bởi vì tư tưởng và lối của Ngài là những nghịch lý đối với con người. Thực vậy, cả cuộc sống cùng với lời rao giảng cái chết và sự phục sinh của Ngài là một chuỗi những nghịch lý trước mắt thế gian. Đang khi người đời chạy theo tiền bạc, địa vị và danh vọng thì Ngài lại tuyên bố: Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó. Đang khi người đời thích gây bạo động và hận thù, thì Ngài lại truyền dạy: Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà. Đang khi người đời cho rằng cái chết là một bất hạnh tột cùng, thì Ngài lại dạy đó là khởi đầu của ơn phúc, là cửa ngõ dẫn vào sự sống.

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta cũng thấy được những điều nghịch lý về Nước Trời. Nhỏ bé như hạt cải nhưng khi mọc lên sẽ trở thành cây to. Ít ỏi như nhúm men nhưng sẽ làm dậy cả đấu bột. Cả hai hình ảnh này đều nói lên sức mạnh của Nước Trời Chúa Giêsu muốn thể hiện qua Giáo Hội của Ngài. Khởi đầu từ một nhóm người nhỏ bé, Giáo Hội dần dần quy tụ mọi dân nước trên thế giới. Xây dựng từ một đám dân chài dốt nát, Giáo Hội đã trở thành phổ quát. Và trải qua bao nhiêu bách hại, Giáo Hội ấy vẫn tiếp tục đứng vững.

Là con cái Giáo Hội, chúng ta được mời gọi đặt tất cả niềm tin tưởng vào Chúa. Tiến bước trong tình yêu quan phòng của Ngài luôn phù trợ chúng ta, dù trải qua gian nan thử thách, chúng ta luôn xác tín rằng: Với những ai yêu mến Chúa, thì Ngài sẽ làm cho mọi sự đều quy về sự thiện hảo. Với niềm tin tưởng ấy, chúng ta quả thực đang tìm được nụ cười muôn thuở của Thiên Chúa.


2. Nhận diện sự dữ.

Thái độ ông chủ trong dụ ngôn của đoạn Tin Mừng vừa nghe xem ra không được hợp tình và hợp lý. Thực vậy, có anh nông dân nào mà lại không chịu khó đi xịt thuốc, hay đi nhổ, mà cứ để cho cỏ dại mọc xả láng trên đồng ruộng của mình.

Thế nhưng, nếu chúng ta hiểu rằng ông chủ ấy là chính Thiên Chúa và cỏ dại là những kẻ tội lỗi, thì chúng ta lại thấy cách cư xử này thật tuyệt vời, vừa hợp tình, lại vừa hợp lý.

Đúng thế, Ngài không đồng lõa và dung túng kẻ tội lỗi, nhưng đã đối xử với họ theo lòng khoan dung và nhân ái. Ngài kiên nhẫn đời chờ kẻ tội lỗn sám hối và hoán cải.

Nếu Thiên Chúa tiêu diệt sự ác ngay bây giờ, thì chắc chắn không ai trong chúng ta có thể sống sót, bởi vì như lời Thánh Vịnh đã diễn tả: Từ trong lòng mẹ, tôi đã là tội nhân, thoạt sinh ra, tôi đã mắc tội rồi.

Và như chúng ta đã biết: Tình thương thì nhẫn nại, nên Thiên Chúa luôn chờ đợi thiện chí hoán cải của từng người, đồng thời Ngài còn ban ơn nâng đỡ họ trên mọi bước đường đời, để rồi cuối cùng, ngày thầm phán mới tới, ngày xét xử tuyệt đối công mình và không ai có thể trách cứ Ngài là đã không dủ lòng thương xót.

Nếu như Thiên Chúa không dung túng và đồng lõa với sự ác, thì chúng ta cũng không được phép thở dài và chán ngán, thất vọng và buông xuôi, nhưng phải cố gắng trở thành người cộng tác vào việc xây dựng Nước Trời.

Thực vậy, ông chủ đã xác quyết:
-      Kẻ thù của ta đã làm như vậy.

Vì thế, bước khởi đầu của chúng ta cũng phải là nhận diện sự ác. Tiêu chuẩn để nhận diện sự ác không phải là bản thân chúng ta với những sở thích riêng tư, nhưng phải là Tin Mừng, với những đòi hỏi của Chúa.

Dưới ánh sáng của Tin Mừng, liệu chúng ta có nhận ra đâu là những dấu chỉ của sự ác đang hoành hành trong tâm hồn mỗi người chúng ta, cũng như trong thế giới hôm nay hay không?

Sau khi xem xong cuốn phim “Dưới ánh mặt trời của Satan”, trong một cuộc phỏng vấn, cha Bourgeois đã đưa ra những dấu chỉ của sự ác hôm nay, đó là sự khinh rẻ con người và cướp đi quyền sống của họ; thái độ tôn thờ ngẫu tượng như tiền bạc, quyền lực, lạc thú; sống trong ảo tưởng vì cho rằng khoa học có thể giải quyết được mọi sự; đánh mất niềm hy vọng, không còn nhìn tới tương lai và sau cùng là đánh mất chính mình, không còn biết rõ con người mình là như thế nào nữa.

Như vậy, sự ác có thể ẩn hiện dưới nhiều khuôn mặt, đôi khi lại là những khuôn mặt thật dễ thương, đầy quyến rũ và rất hấp dẫn.

Thế nhưng, sự dữ không phải chỉ hiện diện trên bình diện thế giới và cộng đồng nhân loại, mà còn hiện diện ngày trong chính cõi lòng chúng ta. Bởi vì cõi lòng chúng ta là như một thửa ruộng trong đó cỏ lùng xen lẫn với lúa tốt.

Vấn đề là làm thế nào để hạt giống Nước Trời đã được Thiên Chúa gieo vãi vào cõi lòng chúng ta được nảy mầm, lớn lên, đâm bông và kết trái. Chính vì thế, chúng ta phải cố gắng kiện toàn bản thân và thể hiện những giá trị của Tin Mừng trong chính cuộc sống chúng ta, bởi vì sự góp phần vào công cuộc kiến tạo Nước Trời phải được khởi đi từ chính bản thân mỗi người chúng ta.

 

3. Tất cả là hồng ân – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

Dụ ngôn cỏ lùng là một trong những dụ ngôn hiếm hoi được chính Chúa giải thích rõ ràng. Giải thích của Chúa giúp ta có những hiểu biết hữu ích cho đời sống đạo.

Dụ ngôn nhắc nhớ ta về sư hiện diện của ma quỷ. Ma quỷ hiện hữu. Chúng luôn có mặt để gieo rắc sự xấu. Chúa đã chuần bị những thửa ruộng tốt. Những thửa ruộng đó là thế giới, là Giáo hội, là tâm hồn mỗi người. Chúa đã gieo những hạt giống tốt. Hạt giống đó là Lời Chúa, là ơn Chúa, là những thiện chí, những ý hướng cao đẹp trong tâm hồn con người. Nhưng ma quỷ lén gieo vào những hạt cỏ xấu.

Chúa gieo vào thế giới hạt giống khát vọng hoà bình. Đẹp biết bao nếu mọi dân tộc nắm tay nhau xây dựng một thế giới huynh đệ tươi thắm tình người. Nhưng buồn thay, cánh đồng hoà bình tươi xanh đã bị những ngọn cỏ tham vọng, ích kỷ, ác độc làm hoen ố. Lịch sự thế giới được ghi bằng những trang buồn vì không ngày nào không có chiến tranh.

Thế giới sẽ đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần xây dựng. Nhưng buồn thay, rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc huỷ hoại, tha hoá, nô lệ hoá con người.

Ngay trong bản thân mỗi người, không thiếu những sáng kiến, những hoạt động ban đầu xem ra tốt đẹp, nhưng dần dà vị vẩn đục vì những biến tướng nặng mùi trần tục như khoe khoang, tìm hư danh, tìm lợi lộc.

Đó là những hạt cỏ xấu ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt.

Tuy nhiên, dụ ngôn cho thấy sự kiên nhẫn và lòng bao dung của Chúa. Chúa đợi cho đến ngày tận thế mới thu lúa cùng với cỏ lùng. Chúa kiên nhẫn đợi chờ vì hi vọng những người tội lỗi ăn năn sám hối. Chúa bao dung tha thứ không nỡ phạt người tội lỗi tức khắc. Chúa yêu thương, tin tưởng người xấu sẽ có ngày nên tốt. Nếu phạt ngay nhưng người tội lỗi thì ta đâu còn cơ may được chiêm ngưỡng ông thánh trộm lành. Nếu Chúa thẳng tay thì ta đâu có thánh nữ Madalêna, Tông đồ của các Tông đồ, thánh Augustinô, Tiến sĩ lừng danh, thánh Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại. Nếu Chúa chấp tội thì bản thân ta sẽ là người bị phạt đầu tiên, vì trong ta cũng đầy những tội lỗi, những sự xấu. Trong tâm hồn ta cỏ lùng vẫn mọc xen với lúa tốt.

Sau cùng, dụ ngôn cho ta hiểu tất cả là hồng ân của Chúa. Có sự lành để ta hiểu biết và yêu mến sự tốt lành của Thiên Chúa. Có sự dữ để ta gớm ghét tránh xa và càng thêm gắn bó với sự lành. Có sự lành để ta được hưởng niềm an ủi ngọt ngào của Chúa. Có sự dữ để ta phấn đấu vượt qua, chứng minh lòng trung tín của ta với Chúa. Có thuận lợi tiến bước trên đường thánh thiện. Có khó khăn để ta rèn luyện thêm đức.

Mọi sự đều nên tốt cho kẻ lành. Thật vậy, việc cấm đạo là sự dữ. Nhưng nhờ đó mà Giáo hội có được những chứng nhân anh hùng. Đau khổ và bệnh tật là những khiếm khuyết trong cuộc sống, nhưng lại giúp con người được thông phần đau khổ với Chúa. Thánh Nữ Têrêsa đã nhìn thấy tất cả là hồng ân của Chúa. Sự lành cũng như sự dữ. Hạnh phúc cũng như đau khổ. Thành công cũng như thất bại. Tất cả đều góp phần rèn luyện, vun đắp và thăng tiến người lành.

GỢI Ý CHIA SẺ
1)   Khi gặp những người xấu trong xứ đạo, trong hội đoàn, bạn có muốn khai trừ người đó ngay tức khắc không?
2)   Trong con người bạn có những khuyết điểm, những bệnh tật, bạn có phấn đấu khắc phục những khuyết điểm, vượt qua bệnh tật để thăng tiến bản thân không?
3)   Chúa đã khoan dung, kiên nhẫn đợi chờ bạn ăn năn hối cải. Bạn có biết kiên nhẫn với người khác?

 

4. Đừng nhổ cỏ lùng.

(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm
Cỏ lùng ở đâu mà ra vậy? Cỏ lùng trong ruộng khiến các đầy tớ ngỡ ngàng.

Thửa ruộng vốn chỉ được gieo giống tốt. Vậy mà khi lúa mọc lên và trổ bông. cỏ lùng lại xuất đầu lộ diện.

Bởi đâu mà có cỏ lùng, có người xấu? Bởi đâu mà ở nơi ta tưởng là trong ngần lại bất ngờ có dấu hiệu của sự vẩn đục?

Có tác động xấu xa nào của Thần Dữ đẩy đưa? Có sự ưng thuận chiều theo nào của con người?

Ông có muốn chúng tôi nhổ đi không? Chúa có muốn chúng tôi tiêu diệt mọi kẻ xấu không? Ngài có muốn chúng tôi xây dựng một Giáo Hội toàn bích, một xã hội chỉ gồm toàn những người tốt không?

Lắm khi chúng ta nóng nảy như Gioan và Giacôbê, đòi đốt cả làng người Samari, vì họ không tiếp Chúa.

Đừng, sợ rằng khi nhổ cỏ lùng, lại làm hư rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt.

Như thế Thiên Chúa để cho cỏ mọc chung với lúa. Ngài chấp nhận tình trạng vàng thau lẫn lộn. Ngài nhẫn nại với tội nhân, với cỏ lùng.

Cỏ lùng chẳng bao giờ thành lúa được. Nhưng người xấu có thể hoán cải nên người tốt. Chính vì thế Thiên Chúa cứ kiên tâm chờ đợi.

Chờ đợi vì tin vào sự hoán cải của con người. Chờ đợi vì tôn trọng tự do lựa chọn của họ. Chờ đợi vì nuôi một niềm hy vọng lớn lao.

Sự thánh thiện của Thiên Chúa ở nơi sự chờ đợi. Ngài còn chờ đợi cho đến ngày tận thế.

Trong thế giới và Giáo Hội không có hai hạng người: hạng cỏ lùng và hạng lúa tốt.

Cỏ lùng và lúa tốt nằm ở nơi tim mỗi người.Mỗi người đong đưa giữa cỏ lùng và lúa tốt, giữa cái thiện và cái ác, giữa thiên thần và Satan.

Ngay trong những hành vi tốt đẹp nhất của tôi, tôi vẫn thấy có chút vị kỷ, chiếm đoạt.
Thiên Chúa vẫn chấp nhận cỏ lùng ở trong tôi. Ngài chờ tôi được thanh luyện dần dần, để rồi mọi sự trong tôi thành lúa tốt.

Kitô hữu không dung túng sự dữ, họ dám hy sinh để xây dựng một thế giới yêu thương. Nhưng họ không dùng bạo lực để chống lại ác nhân. Họ nhẫn nại biến đổi trái tim kẻ thù, vì họ tin vào sức mạnh của tình yêu, tin vào Đức Giêsu, Đấng đã bị sự dữ nuốt chửng nhưng cuối cùng là Đấng toàn thắng.

Gợi Ý Chia Sẻ
·        Có khi nào bạn bị "sốc" trước một gương xấu xảy ra trong Giáo Hội hay giáo xứ của bạn không? Bạn đã làm gì để vượt qua cú sốc đó?
·        Bạn có thấy mình ít nhẫn nại trước cỏ lùng của người khác, nhưng lại không thấy cỏ lùng nơi mình? Có khi nào bạn đòi khai trừ người khác vì họ lầm lỗi không?

Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, xin biến đổi con, xin biến đổi con từ từ qua cầu nguyện.
Mỗi lần con thấy Chúa, xin biến đổi ánh mắt con.
Mỗi lần con rước Chúa, xin biến đổi môi miệng con.
Mỗi lần con nghe lời Chúa, xin biến đổi tai con.
Xin làm cho khuôn mặt con ngời sáng hơn sau mỗi lần gặp Chúa. Ước chi mọi người thấy nét tươi tắn của Chúa trong nụ cười của con, thấy sự dịu dàng của Chúa trong lời nói của con. Thế giới hôm nay không cần những Kitô hữu có bộ mặt chán nản và thất vọng.

Xin cho con biết nhẫn nại và can đảm cùng đi với Chúa và với tha nhân trên những nẻo đường gập ghềnh. Amen.



5. Giáo Hội thánh thiện gồm những người có tội.

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’ – Achille Degeest)

Dụ ngôn hạt giống tốt và cỏ dại, là cơ hội tốt để chúng ta suy niệm về sự thánh thiện của Giáo Hội. Thực vậy Giáo Hội giống như một thửa ruộng lớn nơi đó chủ đã gieo hạt giống tốt, là sự thánh thiện, nhưng người ta cũng thấy mọc cỏ dại là tội lỗi. Chúa giải thích dụ ngôn bằng cách ứng dụng trực tiếp hơn vào thế giới. Hạt giống tốt là thần dân Vương quốc và cỏ dại là những kẻ theo kẻ dữ. Chủ không muốn hành động mạnh chống lại những kẻ làm dữ, vì muốn tránh gây thương tổn cho những ai cố gắng trung thành với điều thiện, nhưng dụ ngôn cũng gợi ra câu hỏi khác mà chúng ta dùng làm đề tài suy niệm: làm sao trong Giáo hội của Thiên Chúa có lẫn lộn thánh thiện với tội lỗi?

1) Giáo Hội thánh thiện tự bản thể, trong cội rễ, trong nhựa sống, trong sự tăng trưởng. Nhưng Giáo Hội được tạo bởi những người có tội. Giáo Hội bắt rễ nơi Đức Kitô, nhựa sống là sự sống của Đức Kitô. Qua Giáo Hội, chính Đức Kitô lớn lên trong nhân loại. Nhưng nhân loại ấy làm bằng những con người yếu đuối. Một đàng những con người ấy giống như gié lụa mà không có cái nào chín ngay được, không có ai hoàn thiện trong tình trạng hiện thời. Đàng khác có những người tuỳ thuộc số hạt giống tốt của Thiên Chúa, nhưng vì có tự do, nên có thể biến đổi thành hạt giống của ma quỷ. Giáo Hội chịu sự giằng co bên trong, khi vừa thánh thiện nhờ tất cả động lực của nguồn gốc mình, vừa khổ vì tội lỗi của những người họp thành mình. Bởi đó mới có sự kiện lạ lùng: không ai có thể bắt bỏ Đức Kitô được một tội nào trong khi Giáo Hội Đức Kitô gồm bằng những tội nhân. Nhưng cũng phải nói luôn rằng Đức Kitô cấu tạo Giáo Hội thánh thiện bởi sức mạnh thánh hoá của Ngài. Trong tư cách Giáo Hội, Giáo Hội thánh thiện nhờ sự kết hiệp với Đức Kitô nhờ Giáo lyý của mình, nhờ ác phép bí tích và cũng nhờ lưu lực thánh thiện đang biến cải các người tội lỗi. Giáo Hội như một linh hồn thánh, không ngừng hồi sinh một thân thể bệnh tật và thương tích. Điều nên kinh ngạc không phải là việc Giáo Hội đang sự khốn cùng của tội lỗi, nhưng là nghị lực của Giáo Hội để thúc đẩy sự thánh thiện.

2) Thực tại của Giáo Hội vượt ra ngoài các giới hạn của hiện tại chúng ta và của lịch sử quá khứ. Khi nói đến tội lỗi bên trong Giáo Hội (các lầm lỡ, các lạm dụng, các sai lầm…) người ta nghĩ đến Giáo Hội thời quá khứ, hay nghĩ đến Giáo Hội hiện đại. Tuy nhiên, phải nghĩ đến Giáo Hội toàn diện, từ khởi sự sẽ tiến tới hoàn thành, Giêrusalem trên trờ mà thánh Gioan nói đến. Khi sống thời hiện tại của Giáo Hội, chúng ta hãy sống viễn tượng và trong niềm kiêu hãnh chính đáng về Giáo Hội bất tử. Hãy tránh một thứ tâm trạng khổ dục, ưa thích một cách bệnh hoạn vạch rõ những gì yếu đuối và tội lỗi trong Giáo Hội hiện đại. Trái lại hãy dựa cách suy tư và cảm nhận của chúng ta trên hành động tích cực của Đức Kitô hằng sống. Trong Giáo Hội, từ Đức Giáo Hoàng cho đến người tín hữu khiêm nhường nhất, Ngài gợi lên lòng quảng đại, tăng cường lòng tin tưởng, thúc đẩy các sáng kiến, nâng đỡ lòng can đảm và ban cho các Kitô hữu chân chính khuôn mặt của những kẻ chiến thắng, những người sống mạnh, những người được giải cứu.


6. Thiên Chúa nhẫn nại với cỏ dại – Charles E. Miller.

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’)

Đôi khi có vẻ như Thiên Chúa sẽ dùng cái lưỡi hái của Người để cắt đi tất cả những cỏ dại mọc trong xã hội của chúng ta. Điều đó sẽ là một điều may phúc lớn lao nếu Thiên Chúa loại trừ khỏi chúng ta những kẻ phá thai, những đứa trẻ vô giáo dục, mấy tay nát rượu, những trùm du đãng, những kẻ giết người hàng loạt, những nhà độc tài… và tất cả những người lạm dụng sự tốt lành và giá trị nhân bản. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Vì sao nó đã không xảy ra? Sách Khôn ngoan nói với chúng ta rằng Thiên Chúa cho con người niềm hy vọng. Người sẽ cho phép họ thống hối tội lỗi của họ. Nói cách khác, Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi. Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của chúng ta. Người coi sự tự do của chúng ta là một tặng ân quý giá khiến Người phải chịu đựng sự dữ, ít nhất là cho đến ngày phán xét. Thiên Chúa sẽ không cưỡng bách bất cứ ai tránh sự dữ và làm điều lành nhưng Người muốn cho tất cả mọi người chúng ta có đủ thời giờ để thống hối và thay đổi cuộc sống của chúng ta.

Loại lúa mì được trồng nhiều ở miền Palestina, lúc còn nhỏ rất khó phân biệt với cây cỏ. Đây là sự thật ẩn trong câu căn dặn: “Khi nhổ cỏ, các anh sẽ nhổ cả lúa mì lẫn trong cỏ”. Người Anh khi chuyển dịch dụ ngôn này đã dùng những từ ngữ giúp minh họa được ý nghĩa của dụ ngôn, nhưng khi lắng nghe tiếng Anh thì rất khó phân biệt giữa hai từ “Wheat và Weed”.

Chúng ta có thể dễ dàng xét đoán một người nào hay một điều gì là sự xấu mà chịu đựng nó thì không thể chấp nhận được theo quan điểm của chúng ta. Đó có thể là một sai lầm nghiêm trọng. Sự thật là chúng ta không có quyền xét đoán tội lỗi của bất cứ ai. Quyền này thuộc về một mình Thiên Chúa. Phá thai là một tội trọng, tội mà Công đồng Vaticano II gọi là “tội không thể nói gì hơn nữa”. Tuy vậy, nhưng có những người phá thai vẫn chưa dứt khoát, mù mờ, lẫn lộn hoặc bị ép buộc, trong trường hợp đó tội của họ được giảm nhẹ cách nào đó. Mặc dầu xã hội của chúng ta đã bị đầu độc bởi một tai họa, là từ chối nhận lãnh trách nhiệm và những dự định bào chữa cho mọi loại xấu xa. Chúng ta không có quyền kết án một người nào, chỉ có hành động là xấu mà thôi.

Thực tế thì rắc rối lắm. Ngay trong Giáo hội dù Giáo hội được xác định là thánh thiện, chúng ta đã kinh nghiệm những gương mù, gương xấu rồi. Có những cỏ dại ngay trong cánh đồng của Giáo hội. Chúng ta đau buồn khi nghe những gương mù trong Giáo hội nhưng những điều xấu xa ấy không làm cho chúng ta ngạc nhiên vì ngay mười hai tông đồ chính Chúa Giêsu đã chọn, cũng có một người phản bội. Chúa Giêsu không loại trừ Giuđa trong khi phát giác ra những hành động gian dối hay những tư tưởng xấu của ông. Người không nhổ cỏ, cỏ đó là Giuđa, khỏi những cây lúa mì là những tông đồ khác.

Những người lãnh đạo quân đội hay cầm đầu chính trị sẽ loại trừ kẻ thù của mình ngay khi vừa phát giác ra họ. Nhưng Thiên Chúa thì không như thế. Cách thế của Thiên Chúa được diễn tả trong bài ca Thánh Vịnh của chúng ta: “Lạy Chúa, Chúa là Đấng nhân từ và hay tha thứ”. Chính chúng ta may mắn khi Chúa thì nhân từ và hay tha thứ. Ai ở trong thế giới này là người vô tội? Ai là lúa mì trong sạch mà không pha trộn một chút cỏ dại? Chúng ta có muốn Thiên Chúa đem chúng ta ra khỏi thế gian này để diện đối diện với Người trong công minh khi mà cánh đồng đời sống của chúng ta vẫn còn những cỏ dại không? Chúng ta không nhận biết rằng sự mời gọi chúng ta đến dự tiệc Thánh Thể là dấu hiệu sự kiên nhẫn của Thiên Chúa dành cho chúng ta ư? Người không đòi hỏi chúng ta phải hoàn hảo trước khi nhận lãnh Mình và Máu Con của Người, hiệp lễ chúng ta sẽ ý thức rằng đó không phải là một phần thưởng cho người đã tốt nhưng có nghĩa là để trở nên tốt.

Thiên Chúa thì kiên nhẫn với mỗi người trong chúng ta nơi cuộc sống đầy đấu tranh này, và Người kiên nhẫn với hết mọi người sống trong thế giới này. Chỉ đến ngày Tận thế. Người mới sai các thiên thần nhặt lấy cỏ mà đốt đi và thu lúa mì vào kho lẫm của Người.

 

7. Thế chỗ Chúa Giêsu trên thập giá.

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
Truyện kể rằng có thầy ẩn tu nọ tên là Cébastien thường đến cầu nguyện tại một nhà nguyện vắng vẻ trên núi. Trong nhà nguyện này dân chúng tôn kính một tượng thánh giá với tước hiệu là “Tượng Chúa ban ơn”.

Thấy dân chúng có lòng tin thường tới cầu xin ơn lành, thầy Cébastien cũng thêm lòng tin cậy. Một hôm, nhân lúc vắng người, thầy đến quỳ gối trước tượng thánh giá và đơn thành khẩn nguyện:
-       “Lạy Chúa, con ước ao được chia sẻ đau khổ với Chúa, xin cho con được thế chỗ Chúa trên thập giá”.
Rồi thầy quỳ yên lặng, mắt đăm đăm nhìn lên thánh giá mong được đáp lời. Một lúc sau thầy nghe như từ trên thánh giá có tiếng phán bảo:
-      “Được, Ta bằng lòng để con thế chỗ Ta trên thập giá, nhưng với một điều kiện duy nhất là bất cứ điều gì xảy ra, tai con nghe gì, mắt con thấy gì, con đều phải giữ im lặng không được nói năng gì hết”.
Thầy Cébastien đã hứa, và được Chúa Giêsu cho lên thế chỗ Ngài trên thập giá. Ngày qua ngày, dân chúng vẫn đến quỳ trước tượng thánh giá cầu nguyện. Nhưng không ai hay biết về việc thế chỗ đổi ngôi giữa Chúa Giêsu và thầy Cébastien.

Một hôm có người đến quỳ cầu nguyện. Xong, ông đứng dậy ra về bỏ quên lại dưới ghế cái túi đầy những đồng tiền vàng. Thấy vậy, thầy vẫn yên lặng. Một lúc sau có người nghèo đói vào nhà nguyện. Ông ta vui mừng trố mắt nhìn túi tiền tưởng là của Chúa ban cho, rồi xách túi tiền ra đi. Kế đó có chàng thanh niên vào quỳ gối khẩn nguyện xin ơn che chở vì phải xuống tàu đi xa. Chàng thanh niên vừa ra khỏi nhà nguyện thì gặp người phú hộ trở lại tìm túi tiền. Không thấy đâu, ông nghĩ là chàng thanh niên đã lấy trộm, nên điệu chàng đến trình cảnh sát. Không cầm lòng được nữa, từ trên thập giá, thầy Cébastien hô lớn tiếng:
-       “Đứng lại!”;

Mọi người ngạc nhiên dừng lại, và thầy phân trần sự việc. Sau đó người phú hộ ra đi tìm người nghèo đói để lấy lại túi tiền và chàng thanh niên cũng vội vã ra đi cho kịp chuyến tàu. Khi không còn ai trong nhà nguyện, Chúa Giêsu lên tiếng phán bảo thầy Cébastien:
-      Con hãy xuống ngay khỏi thập giá! Con không xứng đáng thế chỗ cho Ta, vì con đã không biết giữ im lặng như lời con hứa.
Thầy Cébastien vội vã phân trần:
-      Nhưng lạy Chúa, làm sao con có thể chịu đựng được cảnh bất công đó?

Thưa anh chị em, nhiều khi chúng ta cũng nóng vội không chịu đựng nổi trước hiện tượng người tốt kẻ xấu chung sống lẫn lộn, cỏ dại và lúa tốt mọc chen nhau trong cánh đồng thế giới. Chúng ta đặt câu hỏi: “Chúa có muốn chúng con nhổ cỏ vứt đi không? Chúa có muốn chúng con tiêu diệt hay trục xuất những người gian ác, tội lỗi ra khỏi cộng đoàn không?”. Chúa trả lời: “Cứ để đấy, đợi đến mùa gặt sẽ hay”.  Dụ ngôn cỏ dại trong ruộng lúa đã đánh trúng vào điểm thắc mắc của người Do Thái và các môn đệ Chúa Giêsu: Làm sao trong Nước Trời, Nước của Thiên Chúa lại có thể lẫn lộn lúa tốt với cỏ dại được? Làm sao chính Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời đang đến rồi mà chẳng thấy hiện tượng tiên báo là những người gian ác, tội lỗi phải bị tiêu diệt. Ngôn sứ Isaia cũng mơ ước và loan báo một “Dân Chúa chỉ gồm những người công chính” (Is 60,31). Và ngay cả Gioan Tẩy Giả, những ngày chuẩn bị cho Chúa Giêsu xuất hiện cũng rao giảng: “Ngài đang cầm sẵn chiếc nia trong tay, để rê sạch lúa trong sân: lúa tốt Ngài thu vào kho lẫm, còn lúa lép, trấu rác, Ngài sẽ đốt bằng lửa không bao giờ tắt” (Mt 3,12).

Vậy mà Ngài, Đấng Thiên Sai Cứu Thế lại làm trật lất hết trọi; Chả có tiêu diệt người tội lỗi, lại còn lo cứu gỡ họ. Cứu gỡ cả những thứ phụ nữ ngoại tình bị bắt tại trận, cả thứ mà người ta cho là trời phạt nhãn tiền, đến độ mang án tật nguyền từ lòng mẹ: đui mù, què quặt, cùi hủi, mọi người đều ghê tởm xa tránh… Thay vì đáng lẽ chỉ cho phép một ít người có chức vị cao cấp nhất mới được hầu tiệc với mình, thì Ngài lại đi lân la nhậu nhẹt với những người tội lỗi và bất lương. Đối với kẻ thù, đáng lẽ ra phải không đội trời chung và tiêu diệt tận gốc rễ mới phải, mới khôn và mới đúng đạo, đàng này Ngài lại còn đòi phải cầu nguyện cho nó, thậm chí phải yêu thương nó.

Hôm nay, với dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng lúa, Chúa Giêsu đã giải đáp những thắc mắc sâu sắc đó và đã mặc khải tâm tình của Thiên Chúa: ngoại trừ Đấng thấu suốt tâm can con người, không ai được quyền tự phong chức vụ quan toà để xét xử hay xếp hạng anh em ai là lúa tốt, ai là cỏ lùng. Bao lâu còn đang sống, còn đang lựa chọn và hành động, con người vẫn chưa đạt tới mức độ cố định đã hết hẳn tật xấu hay dứt khoát trở thành gian ác. Nóng vội kết án anh em là hành động trái ngược với tấm lòng và chương trình cứu độ của Thiên Chúa: đòi nhổ cỏ lùng giữa mùa lúa đâm bông là đòi dạy không Thiên Chúa và phá hoại cả đồng lúa và mùa gặt của Ngài.

Tiếp theo là hai dụ ngôn hạt cải và men trong bột, hai dụ ngôn song sinh cùng mang một ý nghĩa: Hạt cải trong dụ ngôn này là thứ cải cay, dùng làm gia vị (moutarde): Tương hạt cải vừa thơm vừa nồng, là một gia vị quen thuộc ở nhiều nơi trên thế giới. Trong thực tế, cây cải này chỉ phát triển thật giới hạn, nhưng Chúa Giêsu lại diễn giải như một thứ cây có khả năng phát triển kỳ diệu đến độ trở thành cây lớn cho chim trời về xây tổ, để nói về chiều kích tương lai kỳ diệu của Nước Trời.

Dụ ngôn men trong bột cũng bao hàm một ý nghĩa tương tự. Một chút men, không đáng kể so với số lượng bột trộn chung, đủ cho cả trăm người ăn no. Số lượng men thật khiêm tốn, tác dụng thật thầm lặng, nhưng hiệu quả lại vô cùng kỳ diệu, mãnh liệt.

Cả hai dụ ngôn vẫn là một đường lối, một chủ trương: nhỏ bé ở bước thầm lặng, nhưng tiềm ẩn một mầm sống mãnh liệt, vượt xa mọi ước lượng và chiến thắng mọi sức cản thù địch. Yếu tố quan trọng vẫn là thời gian và tình thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa kiên trì chờ đợi đến mùa gặt lúa mới nhổ cỏ lùng. Đó là vì tình thương của Thiên Chúa kiên trì chờ đợi con người tội lỗi trở về. Thời gian Ngài kiên trì chờ đợi là để tích cực tạo điều kiện tối ưu cho cây lúa nuôi hạt, cho hạt cải thành cây, cho mầm sống nhân lên gấp bội, và cho men biến bột thành men, cho bột dậy lên làm nên bánh nuôi con người.
Nói chung, cả ba dụ ngôn hôm nay là một lời mời gọi chúng ta phải biết nhìn về tương lai, biết tin vào tương lai; kiên nhẫn chờ đợi gắn liền với tin tưởng vào tương lai. Căn bệnh rồi sẽ khỏi, chiến tranh có thể chấm dứt. Bất công và kỳ thị sẽ không thể kéo dài vĩnh viễn. Bất công sẽ có thể nhổ đi được, kẻ phạm tội có thể hối cải, người thất vọng sẽ tìm lại được hy vọng.

Nhưng, thưa anh chị em,
Tin vào tương lai cũng là hoạt động cho niềm tin trở thành hiện thực. Nhẫn nại kiên trì không có nghĩa là khoanh tay ngồi im chờ đợi trong thái độ thụ động. Người Kitô hữu tin ở sự thắng thế của cái tốt, tin ở một tương lai tốt đẹp, tin ở công trình cứu chuộc của Thiên Chúa, cũng phải là người hoạt động một cách tích cực trong công cuộc xây dựng một xã hội trong đó cái xấu mất dần khả năng gieo rắc nọc độc của nó. Nước Trời đang trổ bông hạt nơi những nỗ lực của nhân loại không ngừng giành lấy từng tấc đất chống lại cỏ lùng. Và bổn phận của chúng ta là liên đới với mọi người anh em để cùng nhau chen vai thích cánh nỗ lực làm tăng trưởng cây lúa, hạt cải và tấm men của Nước Trời.


8. Sống với cỏ lùng.

Đây là một bài học thực tiễn; chấp nhận sống trong một thế giới mà nơi nào cũng có kẻ tốt người xấu, lúa và cỏ lùng.

Dầu sao thì cũng khó chịu đến nỗi chúng ta hăng hái muốn nhổ cỏ lùng! Chúa Giêsu nói với những người không kiên nhẫn này: tại sao có nhiều kẻ bất lương đến thế? Thiên Chúa chờ đợi gì mà không loại trừ họ? Đúng như Gioan Tẩy giả nghĩ về Đấng Cứu Thế như là một vị đầy quyền năng quét sạch mọi sự ác: “Các ngươi sẽ thấy! Ngài cầm nia trong tay mà sẩy sạch sân lúa của Ngài, Ngài thu vén lúa vào kho còn rơm rạ Ngài ném vào lửa” (Mt 3,12).

Chúa Giêsu phải làm dịu những người không kiên nhẫn. Và chúng ta nữa! Phải, sẽ có sự chọn lọc vào ngày tận thế, và chỉ một mình Thiên Chúa thực hiện sự chọn lọc này.

Có lúc chúng ta làm như mình là Thiên Chúa: “Đây là những người tốt! Còn đây là những người xấu, bỏ vào lửa! Luôn luôn có sự cám dỗ này nơi những người Kitô hữu tốt nhất: cùng nhau tạo nên một đồng lúa tươi đẹp. Đáng tiếc là có nhiều cỏ lùng trên thế giới nhưng ít nhất chúng ta làm sạch đồng lúa của chúng ta, sống giữa những tín hữu đích thực, giữa những người trong sạch và có giáo dục. Chúng ta mơ ước về một Giáo hội gồm những người trong sạch, một giáo xứ trong sạch, một cộng đoàn trong sạch, một gia đình trong sạch. Chúng ta hãy nhổ cỏ lùng!

Ở đây chúng ta đứng trước một khuynh hướng bè phái nguy hiểm: chỉ có những người thiện nguyện và những người được chọn, những người được đào tạo, không có những người xử sự sai lầm, không có những người yếu đuối, không có những người tin nửa vời. Chắc chắn có những nhóm người đồng nhất rất sùng tín, anh hùng. Đây là trường hợp điển hình của bước đầu trong các dòng tu. Nhưng biết bao thế giơí nhỏ được chọn đang rình mò do tính kiêu ngạo cho mình là cây lúa tốt: chúng ta đang ghét cỏ lùng ở trong đó.

Chúa Giêsu nhìn Giáo hội theo một cách hoàn toàn khác. Đó là một dân tộc rộng mở và kiên nhẫn, một dân tộc bao gồm những người tốt và những kẻ gàn dở, một dân tộc của sự khiêm nhu và sự hy vọng.

Khiêm nhu. Bạn là ai mà muốn chọn lọc cỏ lùng! Bạn tin rằng mình là đồng lúa chăng? Có thể lắm chứ, nhưng đó là một cánh đồng pha trộn. Bạn hãy xét con tim và những hành vi của bạn, bạn sẽ chịu đựng tốt trong thế giới và quanh bạn hơn là những người khác cũng là một sự pha trộn thánh.

Hy vọng. Sự pha trộn này là một niềm hy vọng. Không có ai hoàn toàn xấu. May thay, tất cả mọi ngươì đều có thể thăng tiến cho tốt hơn! Khi người ta kiên nhẫn chấp nhận chúng ta cùng với cái xấu của chúng ta, chúng ta có cơ may thăng tiến cho tốt hơn. Và khi chúng ta chấp nhận cỏ lùng nơi người khác, thì chúng ta tiếp xúc với họ và có thể giúp họ trở thành cây lúa. Dụ ngôn về sự nhẫn nại này là một dụ ngôn tuyệt vời về sự tiến bộ.


9. Tội lỗi nào được tha thứ – R. Veritas.

Có tội ác nào tày trời đến độ không thể tha thứ được không? Tap chí Times đã nêu ra câu hỏi trên đây khi trích dẫn câu trả lời của một vị luật sư người Capuchia.

Cách đây ba năm, một Mục sư đã rửa tội cho một giáo viên ở một vùng sình lầy thuộc tỉnh Battanapan, ở mạn TÂy Campuchia. Mới đây người giáo viên này tiết lộ mình đã từng làm giám đốc cơ quan mật vụ của Khờ-me đỏ. Sau 20 năm lẩn trốn, nay ông thú nhận là ông đã trực tiếp nhúng tay vào vụ thảm sát ít nhất là 12.000 người Khờ-me.

Người Mục sư mà cha mẹ và với gần 2.000.000 đồng bào ruột thịt bị người Khờ-me đỏ sát tế trong giai đoạn từ năm 1975 – 1979, đã nhận định về cuộc trở lại của người giáo viên này như sau:

Thật là kỳ diệu, Kitô giáo có thể thay đổi cuộc sống con người. Nếu Chúa Giêsu đã thay đổi người giáo viên này, thì Người cũng có thể thay đổi tất cả mọi người.

Ông Duo tức người giáo viên này, một hôm đã đến nghe vị Mục sư thuyết giảng, sau đó ông đã xin chịu phép rửa, ông nói rằng, trong suốt thời thơ ấu và ngay cả khi lớn lên ông không bao giờ được yêu thương. Giờ đây tin nhận Chúa Kitô, ông cảm thấy tâm hồn được tràn ngập yêu thương.

Mục sư ghi nhận rằng, cuộc thay đổi nội tâm đã ảnh hưởng đến toàn diện con người của ông. Trước kia ông lầm lỳ ít nói, nay ông vui vẻ và cởi mở với tất cả mọi người. Trước kia quần áo ông xốc xếch, thì nay ông ăn mặc chỉnh tề. Sau khi đón nhận phép rửa và tiết lộ tông tích của mình, ông Duo đã bị chính quyền Campuchia bắt giữ hồi tháng 5.1998, hiện nay ông đang bị giam tại một nhà từ gần trung tâm Tollen, tức là nơi trước đây ông đã từng tham vấn, hành hạ và sát hại hàng trăm ngàn người đồng bào ruột thịt của mình.

Nhận định về tay đồ tể khát máu Khờ-me, người luật sư Lobin đã nói như sau: một câu chuyện mang lại niềm hy vọng cho nhân dân Campuchia, họ đã trải qua quá nhiều năm trong tăm tối. Khi đón nhận Chúa Giêsu, họ đã được mang lại ánh sáng trong cuộc sống của họ. Thật vậy, đã đến lúc người Campuchia cần phải từ bỏ thù hận để sống yêu thương.

Anh chị em thân mến,
Chứng từ sống động trên đây đưa chúng ta vào cốt lõi của đạo chúng ta là yêu thương và tha thứ mà hôm nay qua bài dụ ngôn cỏ lùng Giáo Hội muốn nhắc lại cho chúng ta. Dụ ngôn là một câu trả lời của Chúa Giêsu và thắc mắc mà các môn đệ thường nêu lên, là tại sao Thiên Chúa không trừng phạt nhãn tiền những kẻ làm điều gian ác?

Với hình ảnh của ruộng lúa tốt và cỏ lùng, Chúa Giêsu mạc khải lòng nhân từ và sự tha thứ vô biên của Thiên Chúa, đối với Thiên Chúa không có tội ác nào, dù cho có tày trời đến đâu mà không thể tha thứ được. Như một người cha ngày ngày ra đứng trước cửa trông ngóng người con hoang đàng trở về, thì Thiên Chúa cũng có một thái độ chờ đợi kiên nhẫn như thế đối với tất cả mọi tội nhân, dù cho con người có đốn mạt xấu xa đến đâu thì Chúa vẫn luôn dành cho một cơ may mới để trở về với Ngài. Nơi tâm hồn con người dù có tăm tối đến đâu, Thiên Chúa vẫn nhận ra được ánh sáng mà chính ngài đã đặt để trong trái tim con người. Chính vì tin tưởng nơi khảnăng có thể cải thiện của con người mà Thiên Chúa không ngừng tha thứ cho con người và kiên nhẫn chờ đợi con người trở về.
“Thức khuya mới thấy đêm dài, sống lâu mới thấy dạ người có nhân”. Dụ ngôn về cỏ lùng được Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, mời gọi các Kitô hữu mặc lấy tâm tình khoan dung nhân hậu và cảm thông của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không khoan nhượng, không dung tha cho bất cứ tội ác nào, Ngài gay gắt lên án thói giả hình và thái độ mù quáng của con người, nhưng Ngài lại tỏ ra cảm thông và tha thứ cho những người yếu đuối tội lỗi, Ngài không những cảm thông với những người tội lỗi, mà còn tha thứ cho chính những kẻ hành hạ Ngài.

Tòa nhà giáo huấn của Chúa Giêsu sẽ sụp đổ nếu từ trên thập giá Ngài không tha thứ cho những lý hình của Ngài. Cuộc sống của Ngài cũng sẽ vô giá trị nếu khi bị treo trên thập giá Chúa Giêsu vẫn còn mang theo hận thù trong lòng Ngài.

Tha thứ là vẻ đẹp cao quý nhất trong tâm hồn con người. Nhân cách của con người sẽ bị đánh mất nếu nó không thể làm được hành động tha thứ. Người tín hữu Kitô chúng ta cũng sẽ mất căn tính của mình nếu chúng ta chỉ sống theo đố kỵ, hận thù. Tha thứ là vẻ đẹp cao quý nhất trong tâm hồn con người, do đó cũng chính là điều khó thực hiện nhất, vì thế mà chúng ta không ngừng cầu xin Chúa cho chúng ta luôn được sống ơn tha thứ, đó là điều chúng ta cầu xin trong Thánh Lễ mỗi ngày.

Kinh Lạy Cha nhắc nhớ chúng ta rằng, chúng ta chỉ có thể cảm nhận được ơn tha thứ của Chúa nếu chúng ta cũng tha thứ cho người anh em chúng ta mà thôi.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta luôn được lớn lên trong niềm xác tín ấy. Amen.


10. Cỏ dại.

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau giữ lại một ý tưởng chính của Chúa Giêsu. Thực vậy, Ngài nói về ơn cứu độ vĩnh cửu. Đứng trước ơn trọng đại ấy, chúng ta phải có một lập trường dứt khoát và phải có một chọn lựa rõ rệt: Đi với Chúa hay đi với ma quỷ, chúng ta không thể nào đi nước đôi, bắt cá hai tay, lửng lơ và trung lập.

Tuy nhiên, trong khi chờ đợi được đón nhận vào hạnh phúc nước trời, chúng ta phải sống với người khác, chia sẻ những băn khoăn lo lắng với họ. Và ngay cả đối với những kẻ đã chạy theo ma quỷ, chúng ta vẫn phải tỏ ra một thái độ nhân từ và khoan dung.

Đây không phải là một điều dễ dàng thực hiện, vì chúng ta thường hay nóng giận và tức tối. Chúng ta cũng giống như hai tông đồ Giacôbê và Gioan, được Chúa sai đi vào một làng xứ Samaria, nhưng dân làng này đã không tiếp nhận các ông.

Trước thái độ thờ ơ và lạnh nhạt ấy, các ông đã bực bội và thưa lên cùng Chúa:
-      Xin cho lửa trời đổ xuống và thiêu huỷ họ.
Nhưng Chúa Giêsu đã không chiều theo sự bốc đồng của các ông và Ngài đã trách cứ:
-      Các con không biết động cơ nào đã thúc đẩy các con hay sao? Con Người đến không phải huỷ diệt mà để cứu thoát.

Chúng ta cũng vậy, đừng phê bình chỉ trích và gay gắt kết án những người anh em không cùng một đường lối với chúng ta.

Khi nhìn thấy sự dữ và tội ác tràn lan khắp nơi, chúng ta thường hay nghĩ rằng:
-      Chúa ngủ hay Ngài nhắm mắt làm ngơ cho những sự kiện đáng tiếc ấy xảy ra.

Trên thế giới, những hạt giống tốt thì hiếm hoi, và cỏ dại thì mọc đầy trong cánh đồng của Chúa. Tại sao Chúa lại để cho như thế?

Còn phần chúng ta, chúng ta là hạng người như thế nào: lúa tốt hay cỏ dại.

Nếu là lúa tốt thì liệu chúng ta có thực sự trong sạch và yêu thương hay không. Chúng ta có thực sự là bạn hữu nghĩa thiết của Chúa hay không? Chúng ta có những sai lỗi và yếu đuối nào không? Liệu có thể chắc chắn được rằng chúng ta sẽ không sa ngã hay không?

Nếu chúng ta tỏ ra nghiêm khắc với kẻ tội lỗi, chúng ta sẽ trở nên những người biệt phái đã bị Chúa Giêsu kết án về sự giả hình của họ. Nếu không ý thức về những sai lỗi của mình, chúng ta dễ dàng đi tới chỗ phản bội Chúa mà không hay biết. Càng là những người con ngoan của Chúa, chúng ta càng phải cư xử độ lượng với người khác.

Tuy nhiên, trong thực tế, đang khi chúng ta mong muốn kẻ tội lỗi bị trừng trị thì Chúa lại không muốn như vậy, bởi vì như Kinh Thánh đã nói:
-      Ta không muốn cho kẻ có tội phải chết, nhưng muốn nó ăn năn và được sống.

Ngài đã chết trên thập giá để cứu độ tội nhân. Ngài theo đuổi kẻ tội lỗi bằng tình thương và ân sủng. Niềm vui của Ngài là dẫn đưa những con chiên lầm lạc trở về với đàn của Ngài.
Hẳn chúng ta sẽ ngạc nhiên khi nghe Ngài phán:
-      Cả thiên đàng sẽ vui mừng vì một kẻ tội lỗi hoán cải hơn là chín mươi chí người công chính không cần sám hối ăn năn.

Và Ngài đã kết luận bằng một hình ảnh cảm động, hình ảnh người cha đón tiếp cậu con hoang đàng trở về. Chúng ta đừng thất vọng và mất lòng cậy trông như Giuđa. Nhưng với một chút thiện chí và dưới tác động của ơn Chúa, rất có thể chúng ta cũng sẽ trở thành như người trộm lành trên thập giá, đã lấy trộm cả Nước Trời cho mình vào giây phút sau hết của cuộc đời.

Trên thiên đàng có những vị thánh đã bắt đầu từ một điểm tăm tối, không đáng ca tụng là mấy. Tuy nhiên với một điều kiện đó là các ngài đã biết trỗi dậy và trở về cùng Chúa, đã làm lại cuộc đời và trung thành với Chúa mãi mãi.



11. Lúa và cỏ.

Có một câu chuyện cổ kể về một ông vua ở Ba Tư muốn dạy cho bốn người con trai một bài học về sự phán đoán. Bốn người con phải lên đường đi tìm một cây đào trong những thời điểm khác nhau. Trước tiên, vào mùa đông nhà vua ra lệnh cho người con trai lớn nhất phải lên đường. Vào mùa xuân, người con kế tiếp phải ra đi. Đến mùa hè, người con thứ ba ra đi. Cuối cùng, khi mùa thu về người con út phải ra đi. Sau đó nhà vua đã gọi tất cả bốn anh em lại để hỏi xem họ diễn tả cây đào như thế nào.

Người con cả nói cây đào giống như một gốc cây khẳng khiu trơ trụi. Người con thứ cãi lại, cây đào nở đầy hoa mầu hồng rực rỡ. Người con thứ ba không đồng ý, cây đào cành lá xanh tươi. Người con thứ tư nói tất cả các anh đều sai. Đối với anh, nó đeo đầy trái trên cành!

“Này các con”, nhà vua nói, “mỗi người đều đúng cả”. Trong khi nhìn vào những cặp mắt lúng túng của các con, nhà vua giải thích. “Các con thấy đó, mỗi người đã nhìn thấy cây đào trong mỗi mùa khác nhau, do đó tất cả các con đã diễn tả rất đúng điều đã nhìn thấy. Bài học cho các con là phải từ bỏ sự phán đoán của mình cho tới khi các con nhìn thấy cây đào trong bốn mùa của nó”.

Đây chính là bài học Chúa Giêsu đã dạy chúng ta qua dụ ngôn cỏ lùng: “Hãy cứ để cả hai, lúa và cỏ lùng, mọc lên cho đến mùa gặt”. Đến mùa gặt là ngày tận thế, sẽ biết được ai xấu ai tốt, và Thiên Chúa sẽ phán đoán và xét xử họ.

Chúa Giêsu đã so sánh những người Kitô hữu chân chính của Nước Trời giống như hạt cải bé nhỏ, như men trong bột. Khi so sánh như thế Chúa muốn chúng ta là những con người năng động, tích cực vì Nước Trời. Hãy nhìn vào lịch sử của Kitô giáo, lúc ban đầu chỉ là một nhóm nhỏ Kitô hữu ở Giêrusalem, đến nay đã ảnh hưởng trên toàn thế giới. Hãy nhớ rằng 1 ounce men, khoảng 28.35 grams, có thể làm 17 pound bột, khoảng 7.718kg, dậy men.

Trong phần chú giải về dụ ngôn men trong bột, William Barclay đã nói lên cái thành quả của men Kitô giáo trong việc biến đổi thế giới trần gian này như sau:

1. Kitô giáo đã biến đổi đời sống các cá nhân. Trong I Cor 6, 9-10 thánh Phaolô đã liệt kê ra một danh sách những điều ghê tởm của con người tội lỗi, rồi ngài nói: “Trước kia, có vài người trong anh em đã là như thế. Nhưng anh em đã được tẩy rửa, được thánh hoá, được nên công chính...” Sự biến đổi của Kitô giáo bắt đầu từ đời sống cá nhân, vì qua Chúa Kitô, nạn nhân của cám dỗ có thể trở thành người chiến thắng.

2. Kitô giáo đã biến đổi đời sống của phụ nữ. Lời cầu nguyện của một người đàn ông Do Thái vào ban sáng là tạ ơn Thiên Chúa vì đã không tạo dựng nên ông là một người ngoại đạo, một nô lệ hay một người phụ nữ! Trong văn hóa Hy Lạp, người phụ nữ phải sống ẩn dật, làm việc nội trợ... Trong những vùng đất ở phương đông, nhất là một gia đình du mục: người cha được ngồi trên lưng lừa; người mẹ phải đi bộ, và có thể còn phải mang vác một gánh nặng. Lịch sử chứng tỏ rằng Kitô giáo đã biến đổi thân phận và đời sống của phụ nữ.

3. Kitô giáo đã biến đổi đời sống của người yếu đuối và bệnh nhân. Trong cuộc sống chưa văn minh, họ bị coi là một mối phiền muộn. Ở Sparta, một trẻ thơ khi vừa sinh ra, phải nộp để khám xét; nếu khoẻ mạnh, nó được phép sống; nếu yếu đuối hay dị dạng, sẽ bị phơi nắng cho đến chết ở bên sườn núi... Kitô giáo là đức tin đầu tiên chú ý vào những sự đau khổ của cuộc sống.

4. Kitô giáo đã biến đổi đời sống cho người già. Giống như người yếu, người già là một sự quấy rầy... Người già, sau thời gian làm việc đã hoàn tất, không còn thích hợp với bất cứ điều gì hơn là bị loại trừ ra trên đống rác của cuộc sống. Kitô giáo là đức tin đầu tiên coi con người như là những ngôi vị chứ không phải là những dụng cụ có khả năng làm việc càng nhiều càng tốt.

5. Kitô giáo biến đổi đời sống cho trẻ thơ. Trong thời Chúa Giêsu những vụ ly dị xảy ra lan tràn. Con cái là mối phiền muộn; và theo thói quen thường xảy ra là cứ để mặc cho trẻ em chết một cách bi thảm. Trong thời xa xưa trẻ em có nhiều dịp để chết trước khi bắt đầu sống. Chỉ một nhóm nhỏ những người Kitô giáo đã làm thay đổi tất cả vấn đề này.

Ảnh hưởng của Kitô giáo được chứng minh bằng sức mạnh mang tính chất giống như men trong bột của một số nhỏ những người theo Chúa Kitô. Điều này giúp ta hiểu tại sao sách Công vụ Tông đồ đã ghi rằng khi Kitô giáo đến Thessalonica, những người Do Thái phải kêu la lên: “Những người đã làm điên đảo thế giới nay đã có mặt ở đây”.

Bất cứ ai hỏi rằng “Kitô giáo đã làm gì cho thế giới”? Cũng phải nhìn nhận một sức mạnh biến đổi nơi các Kitô hữu trong mọi thời đại. Lịch sử đã chứng minh điều này. Chúng ta có quyền lạc quan, tin tưởng, và hy vọng vào tương lai. Lời Chúa nói trong các dụ ngôn cỏ lùng. Dụ ngôn hạt cải và dụ ngôn men trong bột không bao giờ sai. Và câu hỏi được đặt ra cho chúng ta là liệu chúng ta có dám tiếp tục đứng chung với những người Kitô hữu sơ khởi đấu tranh cho sự sống của con người, nhất là bênh vực cho các trẻ em chưa sinh ra, còn trong bụng mẹ không?

12. Cỏ và lúa.

Bài Tin Mừng thuật lại ba dụ ngôn của Chúa Giêsu: cỏ lùng, hạt cải và men. Nghe Chúa nói ba dụ ngôn, nhưng các môn đệ lại chỉ xin Chúa giải thích một dụ ngôn cỏ lùng, và Chúa đã giải thích: người đi gieo giống tốt là Thiên Chúa, hạt giống là người ta, là con người, là con cái Chúa, thửa ruộng là thế gian, là nơi sinh sống, làm việc, phục vụ, cỏ lùng là người xấu, người dữ, mùa gặt là ngày chết hay ngày tận thế, thợ gặt là các thiên thần, lúa tốt thì được thu vào kho lẫm, tức là những người tốt lành, công chính, thánh thiện, thì được thưởng, còn cỏ lùng là những người xấu, người dữ thì bị tống vào hoả ngục.

Nghe hay đọc dụ ngôn này cùng với sự giải thích của Chúa, chúng ta thấy dễ hiểu và hợp tình hợp lý. Thế gian này có người tốt người xấu, người lành người dữ sống bên nhau, sống cùng nhau là chuyện bình thường. Chẳng có nơi nào toàn là những người tốt và cũng chẳng có nơi nào toàn là những người xấu. Nhưng có một điều khác biệt: cỏ lùng, vì bản chất của nó là cỏ dại, cỏ xấu, cho nên vạn đại nó cũng không thể nào biến thành lúa tốt được. Cũng thế, cây lúa thì lúc nào nó cũng là cây lúa, chỉ có điều là nó cho nhiều hay ít hạt lúa, chứ không bao giờ biến thành cỏ lùng được.

Đối với con người thì không như vậy: bản tính con người được Chúa tạo dựng là tốt lành: “Nhân chi sơ tính bản thiện”: khi sinh ra, con người vốn tốt lành, nhưng với thời gian lớn khôn, con người vẫn tốt hay trở thành xấu, nghĩa là con người tốt hay xấu là do thêm vào hay mất đi. Có người trước kia là lúa tốt, bây giờ là cỏ lùng, ngược lại, có người trước kia là cỏ lùng, bây giờ là lúa tốt. Dĩ nhiên cũng có những người luôn luôn là lúa tốt và những người lúc nào cũng là cỏ lùng, hoặc có những người khi thì là lúa tốt khi thì là cỏ lùng hoặc ngược lại. Điều quan trọng là tới khi chết, người ta đang ở trong tình trạng nào: cỏ lùng hay lúa tốt? Đó là trách nhiệm của mỗi người.

Chính vì yếu tố trách nhiệm này, vì khả năng biến đổi tốt thành xấu và xấu thành tốt nên chúng ta phải cố gắng làm giảm bớt đến mức tối đa, tức là mức thấp nhất những gì là xấu xa, tội lỗi, tức là cỏ lùng, và gia tăng đến mức tối đa, tức là mức cao nhất, nhiều nhất những gì là tốt lành, thánh thiện, tức là lúa tốt. Hơn nữa, trong đời sống hằng ngày, ngoài việc cố gắng bớt cỏ lùng, thêm lúa tốt, tức là bớt tư tưởng, lời nói, việc làm xấu và gia tăng những việc phúc đức, mỗi người còn phải cố gắng làm sao để được nhắm mắt xuôi tay, kết thúc cuộc đời trong tình trạng đang kể là lúa tốt.

Ở đời này, thường chúng ta ít thấy công lý thắng gian tà, nhưng ở đời sau, thì tất cả mọi nợ nần đều phải trang trải, mọi bất công sẽ được san phẳng: lúa tốt, tức là người tốt, sẽ được nâng niu thu góp vào kho lẫm, tức là được thưởng công xứng đáng. Còn cỏ lùng, tức là người xấu, sẽ bị ném vào lửa để thiêu huỷ. Câu chuyện cỏ lùng giữa lúa tốt quả quyết với chúng ta về sự báo oán công minh ở đời sau: người tốt sẽ được thưởng, người xấu sẽ bị phạt muôn đời. Như vậy, tốt hay xấu, được thưởng hay bị phạt là do chính mỗi người chúng ta. Vì thế khi kết thúc dụ ngôn Chúa nói: “Ai có tai thì nghe:, nghĩa là Chúa muốn nhắc chúng ta rằng: chúng ta là đầu óc, có trí khôn, chúng ta biết phân biệt phải quấy, chân giả, đúng sai, tốt xấu thì đừng có sống đóng kịch hay sống bất chính, chúng ta phải biết sống đúng là con Chúa, chúng ta phải sử dụng đầu óc, trí khôn để sống theo luật Chúa. Chúng ta sống làm sao Chúa sẽ căn cứ vào đó để thưởng hay phạt chúng ta.
Tóm lại, trong cánh đồng mầu mỡ là con người yếu đuối của chúng ta, lúa tốt và cỏ lùng, tức là nhân đức và tội lỗi, đức tính và tật xấu... luôn luôn chèn ép nhau, giành giật nhau. Vì thế, chúng ta phải luôn tỉnh thức và chiến đấu để loại trừ cỏ lùng, tội lỗi và tật xấu, đồng thời bảo vệ lúa tốt, nhân đức và công phúc của chúng ta. Có như thế đến mùa gặt, tức là khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay, chúng ta sẽ được Chúa nhân từ âu yếm nói với chúng ta: “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, hãy vào hưởng sự vui mừng với Chúa ngươi”. Xin Chúa cho chúng ta biết sống theo lời Chúa để chúng ta đều được nghe những lời đầy thân thương trên đây của Chúa.

 

13. Một nửa ánh sáng – một nửa bóng tối.

Thiện Ác cùng hiện diện trong mỗi con người, mỗi cộng đồng cũng như trong thế giới:
Trong các tài liệu của Giáo Hội chúng ta thường thấy tựa đề này: "Ánh sáng và bóng tối trong... ví dụ: trong thế giới loài người hôm nay, trong gia đình hiện nay, trong giới trẻ hiện nay". Đó chính là vấn đề mà dụ ngôn cỏ lùng trong Tin Mừng theo thánh Matthêu muốn nêu lên.

Trong cuộc sống, chúng ta luôn chứng kiến một thực tại là Thiện và Ác luôn có mặt cùng lúc, cùng nơi, bên cạnh nhau và tranh giành nhau. Thực tại ấy xẩy ra nơi mỗi tâm hồn, mỗi cộng đồng, mỗi xã hội. Mỗi người mỗi cộng đồng và thế giới luôn bị giằng co, lôi kéo bởi hai lực, hai khuynh hướng, hai trào lưu nội tâm trái nghịch nhau, một kéo về hướng tốt, một kéo về phía xấu. Thánh Phaolô đã diễn tả thực tại ấy như thế này: "Những điều (tốt) tôi muốn làm thì tôi không làm, trong khi những điều (xấu) tôi không muốn làm thì tôi lại làm".
Một nhạc sĩ trẻ đã sáng tác một bài hát rất hay mang tựa đề "Một nửa ánh sáng, một nửa bóng tối trong tôi" để diễn tả thực tại ấy. Nội dung bài hát đại khái như vầy: Trong tôi, trong mỗi người chúng ta có một nửa là ánh sáng (tức là phần tốt lành, vị tha, thánh thiện) và một nửa là bóng tối (tức là phần xấu xa, vị kỷ, tội lỗi). Làm sao để nửa phần ánh sáng bừng cháy lên, đánh tan hoặc che phủ hoàn toàn nửa phần bóng tối kia đi.

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy: chẳng có ai hoàn toàn tốt lành, vị tha, thánh thiện; mà cũng chẳng có ai hoàn toàn xấu xa, vị kỷ, tội lỗi. Vấn đề là làm sao đề phần tốt lành, vị tha, thánh thiện hiện rõ và thắng thế. Trong mỗi cộng đoàn đức tin cũng thế. Trong trong thế giới loài người cũng thế. Ngày nay có biết bao người dám xả thân vì tha nhân, vì công lý và hoà bình thì cũng có không ít người chỉ biết huỷ diệt, tìm mọi cách để huỷ diệt. Giữa ánh sáng và bóng tối luôn luôn có sự đấu tranh giành giật loại trừ nhau một cách quyết liệt. Ánh sáng càng lan toả thì bóng tối càng bị thu hẹp và ngược lại. Chính vì thế mà Đức Thánh Cha Gio-an Phaolô II luôn kêu gọi mọi người thành tâm thiện chí và nhất là các Kitô hữu hãy tích cực xây dựng một nền văn minh sự sống, chiến đấu chống lại nền văn minh sự chết đang hoành hành trong các quốc gia.

Thiện xuất phát từ Thiên Chúa, Ác là do ma quỷ:
Đứng trước sự kiện hiển nhiên "một nửa ánh sáng, một nửa bóng tối" ấy, con người không ngừng thắc mắc như các đầy tớ của dụ ngôn cỏ lùng trong Phúc Âm: "Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?"

Đối với những người tin rằng thế giới này do nhiều thần linh cai trị thì những điều tốt lành là do các thần tốt lành mà ra; còn các điều xấu, điều ác thì tất nhiên phải xuất phát từ những ác thần. Còn đối với chúng ta là những kẻ tin rằng Thiên Chúa là Chủ duy nhất của vũ trụ vạn vật và là Đấng toàn thiện, vậy thì sự ác, sự dữ do đâu mà có?

Thánh Kinh cho biết: ngay từ thuở ban đầu Thiên Chúa tạo dựng nên vũ trụ vạn vật và Ngài đã đánh giá công trình ấy là tốt đẹp. Nhưng Thánh Kinh cũng cho chúng ta biết ngay từ buổi đầu, chính Sa-tan đã lôi cuốn tổ tông loài người bất tuân lệnh Chúa mà ăn trái cấm trong vườn địa đàng và gây tai hoạ cho con cái loài người. Giáo huấn trên ăn khớp với điều Đức Giêsu giải thích về dụ ngôn: "Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ". Thế giới vũ trụ vạn vất là công trình tốt đẹp do quyền năng và tình thương của Thiên Chúa dựng nên; còn mầm mống sự ác là cỏ lùng đã được gieo vào lòng con người và lòng xã hội là do ma quỷ, do ác thần. Cỏ lùng mọc xen với lúa và cùng lớn lên với lúa. Lúa tốt và cỏ lùng tranh giành nhau đất sống. Đó là cuộc chiến tranh khốc liệt xảy ra hằng ngày trong mỗi tâm hồn, trong mỗi cộng đồng.

Tại sao Thiên Chúa không huỷ diệt sự ác ngay lập tức?
Một thắc mắc nữa là tại sao Thiên Chúa không huỷ diệt sự Ác ngay lập tức mà lại để cho sự ác hiện hữu, tác động xấu trên con người và xã hội? Trong dụ ngôn cỏ lùng, ông chủ không nghe theo đề nghị của các đầy tớ là cho nhỏ hết cỏ lùng khỏi ruộng lúa, mà cứ để cho cỏ lùng phát triển song song với lúa tốt. Lý do ông nêu lên là nếu cho nhổ hết cỏ lùng thì "sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt". Sẽ đến giờ, đến lúc cỏ lùng và lúa tốt được tách riêng ra.

Thiên Chúa có nhiều lý do để hành động như thế. Trước hết vì Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, không nỡ bẻ gẫy cây sậy đã dập, không dập tắt tim đèn còn khói. Ông chủ ruộng không ra lệnh nhổ hết cỏ lùng cũng là vị mục tử bỏ chín mươi chín con chiền lành để đi tìm một con chiên lạc, cũng là người cha ngày ngày đứng ngóng đợi đứa con hoang trở về.

Thứ đến là vì Thiên Chúa tin rằng người xấu có thể thay đổi thành người tốt, người tội lỗi có thể trở nên người công chính, nhờ hồng ân của Thiên Chúa và sức mạnh của Thánh Thần. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng khi một người ý thức mình là người có tội và phải vất vả lắm mới thoát ra khỏi cảnh tội thì người ấy sẽ sống khiêm tốn và yêu thương hơn.

Chúng ta có nhiều ví dụ trong Phúc Âm: Phêrô phút trước vẫn còn là người đánh cá, phút sau đã trở thành môn đệ Đức Giêsu. Cũng Phêrô phút trước còn là kẻ hèn nhát chối Thày trước mặt một người tớ gái, phút sau đã trở thành người sám hối vĩ đại, quyết sống chết với Thày Giêsu. Phaolô phút trước còn là kẻ bách hại các Kitô hữu, phút sau đã trở thành vị tông đồ dân ngoại. Matthêu và Da-kêu phút trước còn là một nhân viên thu thuế, phút sau đã trở thành môn đệ Chúa. Madalêna phút trước còn là một phụ nữ bán mình mua vui cho thiên hạ, phút sau đã trở thành người gắn bó chặt chẽ với Đức Giêsu. Người trộm lành phút trước còn là tên trộm dữ, phút sau đã là người được Đức Giêsu đưa vào thiên đàng hưởng hạnh phúc bên Chúa v.v.. Chúng ta cũng có thể tìm ở chung quanh mình những ví dụ khác mới mẻ hơn.

Lý do sau cùng là Thiên Chúa muốn con người đóng góp vào việc phát triển sự Thiện và tiêu diệt sự Ác nơi mình, nơi tha nhân và trong thế giới.

Làm thế nào để phát triển sự Thiện và tiêu diệt sự Ác nơi mình, nơi tha nhân và trong xã hội?
Chúng ta phát triển sự Thiện và tiêu diệt sự Ác nơi mình, nơi tha nhân và trong xã hội bằng cách làm cho một nửa ánh sáng bừng sáng lên và nửa bóng tối thu hẹp lại tức là tạo điều kiện cho các khuynh hướng tốt, các ước vọng tốt, các nỗ lực tốt thành hiện thực và đồng thời làm cho các khuynh hướng xấu, ước vọng xấu, hành động xấu không có cơ hội hình thành.

Nửa ánh sáng là lòng yêu thương, bác ái, nhân hậu, từ bi, quan tâm giúp người. Nửa bóng tối là ích kỷ, hận thù, khắt khe, sống thờ ơ với người bên cạnh. Nửa ánh sáng là khiêm nhường, hiền lành. Nửa bóng tối là kiêu căng, tự mãn, coi thường tất cả. Nửa ánh sáng là trong sạch, khiết tịnh, điều độ, siêu thoát. Nửa bóng tối là tham sân si, chạy theo lạc thú, ham hố của cải, chức quyền, địa vị. Nửa ánh sáng là công lý và hoà bình. Nửa bóng tối là bất công và chiến tranh... Mỗi lần chúng ta chọn phần nửa ánh sáng và từ khước phần nửa bóng tối là chúng ta phát triển sự Thiện và tiêu diệt sứ Ác nơi mình, nơi tha nhân và trong xã hội.

Lạy Thiên Chúa là Cha từ bi nhân hậu, Cha đã tạo dựng vũ trụ vạn vật và con người. Cha lại còn giao phó cho con người sứ mệnh gìn giữ, cai quản và làm chủ công trình tốt đẹp ấy, để loài người cộng tác với Cha làm cho công trình ấy luôn luôn tốt đẹp và hữu ích. Xin Cha giúp chúng con biết quý trọng thiên nhiên và tôn trọng những định luật tự nhiên mà Cha đã đặt để trong đó. Xin Cha giúp chúng con biết tích cực bảo vệ và phát triển sự Thiện và đấu tranh tiêu diệt sự Ác nơi mình, nơi tha nhân và trong xã hội chúng con đang sống.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã được Cha sai đến trần gian để gieo vãi hạt giống tốt trong cánh đồng thế gian và làm cho hạt giống ấy phát triển thành cánh đồng cao sản. Chúa đã chiến đấu hết sức mình, chiến đấu đến nỗi bị kẻ thù giết hại để thực hiện Ý Cha và đem lại chiến thắng cho Vương quốc của Cha. Xin Chúa giúp chúng con biết cách đấu tranh bênh vực sự Thiện trong chúng con, trong cộng đồng và xã hội chúng con và đẩy lùi sự Ác ra khỏi lòng chúng con, khỏi cộng đồng và xã hội chúng con.

Lạy Chúa Thánh Thần là sức mạnh Thiên Chúa, xin Chúa luôn ở cùng chúng con, luôn chiến đấu với chúng con để đem lại chiến thắng cho Nước Thiên Chúa.

 

14. Không muộn.

Mục sư Martin Luther King, người đấu tranh giành tự do cho nô lệ da đen tại Hoa Kỳ bằng phương pháp bất bạo động đã kể lại câu chuyện như sau:

Chúng tôi đã có dịp viếng thăm bang Kerela ở cực Nam Ấn Độ. Một buổi chiều cuối tuần, chúng tôi đến bãi biển Cap-Comorin, thường được gọi là “nơi tận cùng của thế giới”, vì đây là mũi đất cuối cùng của lục địa Ấn Độ tiếp giáp Ấn Độ Dương.

Trước mắt chúng tôi là đại dương mênh mông, với các đợt sóng nhấp nhô. Nơi đây được gọi là điểm hẹn của ba biển cả: Ấn Độ Dương, biển Ả Rập và vịnh Bengal. Ngồi trên tảng đá nhô ra trên mặt nước, chúng tôi cảm thấy mình bị cuốn hút vào biển cả mênh mông. Trong khi các đợt sóng dồn dập vào mỏm đá, tạo nên một bản nhạc nhịp nhàng, thì về phía tây, chúng tôi nhìn thấy mặt trời đỏ chói đang dần dần đi vào biển cả. Khi mặt trời gần khuất, vợ tôi đánh động tôi và nói: “Xem kìa, Martin, thật là tuyệt vời, phải không?” Tôi đưa mắt nhìn chung quanh và kìa mặt trăng đang từ từ lên khỏi lòng biển trong khi mặt trời chậm chạp đi xuống biển sâu. Khi mặt trời lặn, bóng tối bao trùm mặt đất, nhưng từ phía đông, mặt trăng mọc lên, rực rỡ, chói sáng.

Khi ánh sáng mặt trời tắt dần và dìm chúng ta vào trong bóng tối dày đặc, có thể ví như thời điểm của cái ác và sự dữ lộng hành, biến chúng ta thành nạn nhân của thế lực đen tối. Nhưng hãy nhìn về phía đông, chúng ta sẽ thấy một ánh sáng rực rỡ huy hoàng ngay trong đêm tối. Và đêm đen lại sáng tỏ như ban ngày. Đó là lúc điều thiện và cái tốt đang vươn lên mạnh mẽ. Nếu đã có ánh sáng ban ngày hướng dẫn chúng ta lúc thuận buồm xuôi gió, thì cũng có ánh sáng ban đêm dẫn đưa chúng ta khi bão tố phong ba. Cả hai phải cùng tồn tại để đồng hành với chúng ta đến với nguồn sáng vĩnh cửu là Thiên Chúa.

Đức Giêsu, trong bài Tin mừng hôm nay đã khẳng định lập trường của Thiên Chúa qua dụ ngôn cỏ lùng và lúa tốt. Đầy tớ muốn nhổ cỏ lùng đi, nhưng ông chủ lại bảo: “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt”. Kể từ khi nguyên tổ nuốt lấy trái cấm thì sự dữ và cái ác như con bạch tuộc vươn vòi đến mọi mặt của cuộc sống con người. Nó dai dẳng, ngoan cố, lì lợm, không dễ dàng buông tha nếu chúng ta không chống cự lại một cách mãnh liệt, dứt khoát. Chẳng thế mà Kinh thánh đã dùng biểu tượng con rắn để mô tả hành động xảo trá của sự dữ luôn gieo rắc bất hoà trong bản hoà tấu nhịp nhàng của đời sống con người.

Trong dụ ngôn cỏ lùng, Đức Giêsu khẳng định về sự xuất hiện của cỏ lùng là do kẻ thù đã gieo chúng vào ruộng lúa.

Cho dù kẻ thù đó là Satan hay bởi chính sự lạm dụng tự do của con người, thì cỏ lùng luôn mang đến tai hoạ và chết chóc.
Cho dù cỏ lùng có bóp nghẹt lúa tốt trong một thời gian, nhưng mùa gặt đến, nó sẽ bị gom lại và đốt đi. Còn lúa tốt lại được cất vào kho lẫm.

Cho dù cứ để cỏ lùng và lúa tốt cùng lớn lên cho đến mùa gặt, nhưng không phải là để dung túng cho cái ác và để sự dữ lộng hành.

Thiên Chúa có chương trình hành động của Người: Trong hành trình của mỗi con người, vẫn có cỏ lùng mọc chung với lúa tốt, vẫn có cái ác sống chung với cái thiện, vẫn có bóng tối chen lẫn cùng ánh sáng. Đó là cuộc chiến đấu trường kỳ giữa sự lành và sự dữ. Trong lòng người tín hữu rễ cỏ lùng và lúa tốt vẫn đan xen lẫn nhau. Thánh Phaolô đã diễn tả chân lý ấy khi viết: “Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi cứ làm”. Người tín hữu hay bị cám dỗ ở trong tình trạng chưa là tội nhân mà cũng chưa muốn tìm về thánh thiện.

Khi chiến đấu chống lại sự dữ, chúng ta không chiến đấu đơn độc, có Chúa cùng chiến đấu với chúng ta, như một người Cha đầy yêu thương. Nhưng người không can thiệp để tiêu diệt sự dữ một cách vũ bão, vì Người đã ban cho chúng ta sự tự do, và bởi chúng ta là những con người có trách nhiệm. Sự dữ nào cũng có phần cộng tác của con người, tội lỗi nào cũng mang dấu tay của những kẻ đồng loã. Evà đã chẳng phạm tội nếu bà đừng đưa tay ra hái trái cấm. Để cứu lấy con người luôn luôn sa ngã, Thiên Chúa đã phải nhẫn nại, chờ đợi sự hoán cải tuy rất chậm chạp của họ.

Thiên Chúa yêu thương con người, và không hề quên sót một ai, cho dù họ là những tội nhân:

Nếu Thiên Chúa tỏ ra chậm chạp trong việc chống lại tội lỗi, là để chúng ta có thời gian mà sám hối canh tân.

Nếu chúng ta yếu đuối lầm lỗi, thì Người sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để can đảm trỗi dậy sau những lần vấp ngã.

Nếu phải bước đi trong bóng đêm tăm tối vì mất niềm hy vọng, thì Người sẽ là ánh sáng dẫn đường để chúng ta đến với niềm tin.

Thiên Chúa khinh ghét tội lỗi nhưng lại yêu mến tội nhân, vì Nười chờ đợi nơi họ lòng thống hối để được Người thứ tha. Thiên Chúa khoan dung, độ lượng không phải để dung túng cho các tội nhân, nhưng là để cho họ thời gian thức tỉnh mà quay trở về.

Chúa đã bao dung nhẫn nại với chúng ta. Lẽ nào chúng ta lại thiếu nhân hậu khoan dung với kẻ tội lỗi? Chúa đã yêu thương chúng ta, lẽ nào chúng ta không dùng tình yêu của Người mà hoán cải anh em? Lòng tương xót Chúa muốn kéo chúng ta vào quê hương vĩnh cửu. Nhưng không phải là một cuộc hành trình đơn độc. Trái lại, phải là một ngày hội thắm đẫm tình yêu, đầy ắp tiếng cười.


15. Sự nhẫn nại thật sự – Lm. Cantalamessa.

Cha Capuchin Raniero Cantalamessa, người giảng Phủ Giáo Hoàng đã giải thích về dụ ngôn cỏ lùng và hột giống tốt.
uuu

Hột giống và cỏ lùng
Nước Trời có thể sánh với một người đã gieo giống tốt trong ruộng mình; nước Trời giống như một hột cải; nước trời giống như chất men. Ba câu đầu này của những dụ ngôn đủ cho chúng ta hiểu rằng Chúa Giêsu đang nói với chúng ta về một nước "Trời", nhưng nước đó được tìm thấy "trên mặt đất."

Thật vậy, chỉ trên mặt đất mới có một chỗ cho cỏ lùng và sự mọc lên, chỉ trên mặt đất mới có bột cần chất men. Trong nước cuối cùng, không có cái gì trong tất cả những thứ đó, nhưng duy nhất chỉ có Chúa, đấng sẽ là tất cả trong tất cả mọi người. Dụ ngôn hột cải biến thành một cây chỉ rõ sự lớn lên của nước Chúa trong lịch sử.

Dụ ngôn chất men cũng chỉ sự lớn lên của nước Chúa, nhưng không phải một sự lớn lên trong sự trải rộng cho bằng trong sự hùng mạnh; nó chỉ sức mạnh biến đổi Người có sức mạnh đó có thể đổi mới mọi sự. Hai dụ ngôn sau cùng này được các môn đệ hiểu dễ dàng. Nhưng dụ ngôn thứ nhất không được hiểu dễ dàng như thế đó là dụ ngôn cỏ lùng.

Sau khi bỏ những đám đông, và khi vào đến nhà, các môn đệ hỏi Chúa Giêsu về sự đó: "Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe".. Chúa Giêsu đã giải nghĩa dụ ngôn. Người nói Người là kẻ gieo giống, hột giống tốt là con cái nước trời, những cỏ lùng là những con cái kẻ dữ, và đồng ruộng là thế gian và mùa gặt là ngày tận thế.

Đồng ruộng là thế gian. Trong thời cổ Kitô giáo, các người Donatists đã giải quyết vấn đề một cách đơn giản và nói rằng Giáo Hội là tất cả những kẻ lành, và thế gian thì đầy dẩy những con cái kẻ dữ, không có hy vọng gì được cứu độ. Nhưng tư tưởng của Thánh Augustinô trổi bật hơn, tư tưởng đó là tư tưởng về Giáo Hội phổ quát.

Chính Giáo Hội là một cánh đồng, trong đó những hột giống và những cỏ lùng, những kẻ tốt và những người xấu, đều mọc lên chung, là một nơi có chỗ để mọc, để được cải thiện và hơn hết để bắt chước gương nhẫn nại của Chúa. "Những kẻ dữ hiện hữu trong thế gian này hoặc là để được cải thiện hay là nhờ họ mà những kẻ lành có thể luyện tập đức nhẫn nại" (Th. Augustine).

Bài đọc thứ nhất, trích từ Sách Khôn Ngoan, cũng nói về sự nhẫn nại của Chúa, với thánh thi ca ngợi sức mạnh của Chúa: "Nhưng dầu Chúa là chủ tể sức mạnh, Chúa xét xử nhân hậu, và Chúa cai trị chúng con với nhiều khoan dung,... Và Chúa đã dạy dân Chúa, bằng những việc làm này, là những kẻ công chính phải ở hiền lành, và Chúa ban cho con cái Chúa điều kiện tốt để hy vọng Chúa cho phép sám hối vì tôi lỗi của họ."

Hơn nữa, sự nhẫn nại của Chúa, không phải là một sự nhẫn nại đơn giản, nghĩa là chờ tới Ngày Phán Xét và lúc đó phạt theo thoả thích. Đó là sự nhẫn nhục, lòng thương xót và ý muốn cứu vớt. Do đó, trong Nước Chúa, không có chỗ cho những tôi tớ không biết nhẫn nại, cho những người không làm gì hơn là kêu xin Chúa phạt và thỉnh thoảng chỉ cho Chúa con người Chúa phải đánh.
Một ngày kia Chúa Giêsu quở trách hai môn đệ của Người muốn lửa mưa từ trời xuống trên những kẻ đã không tiếp rước Người (Lc 9,55). Có lẽ cũng phải quở trách như vậy đến một số người quá sốt sắng đòi công lý, hình phạt và báo oán những kẻ giữ cỏ lùng của thế gian.

Sự nhẫn nại của ông chủ ruộng cũng được chỉ như một gương mẫu cho chúng ta. Chúng ta phải chờ mùa gặt, nhưng không phải như những đầy tớ khó kiềm hảm, giữ chặt cái liềm, dường như nóng lòng thấy gương mặt của những kẻ dữ trong Ngày Phán xét. Ngược lại, chúng ta phải chờ như những người coi ý muốn của Chúa là của mình, là "tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý " (1Tm. 2,4).

Do đó, một lời kêu gọi sống khiêm tốn và nhân hậu, là điều được gặt hái từ dụ ngôn hột giống và cỏ lùng. Chỉ có một đồng ruộng đúng đắn và cần thiết để nhổ ngay cỏ lùng, đó là từ chính lòng của mình!


16. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt.

DỤ NGÔN CỎ LÙNG HẠT CẢI, MEN BỘT

CHÚ GIẢI CHI TIẾT
"Về Nước Trời thì cũng in như người kia": Trong lúc dụ ngôn người gieo giống có thể tóm tắt bằng mấy chữ: việc nảy mầm của Nước Trời sẽ gặp nhiều thất bại đau đớn; thì dụ ngôn cỏ lùng lập tức đi tiếp theo và đặt ngay câu hỏi: các thất bại, các sự chống đối Nước Trời, cái công việc của Thần dữ đó phải chăng không thể bị dẹp bỏ ngay lập tức? Cả hai đều cố gắng đánh đổ lòng nao nức trông chờ Đấng Thiên sai ra tay, dụ ngôn người gieo giống thì bằng cách xác quyết rằng không thể tránh được việc một phần lớn hạt giống bị mất đi; còn dụ ngôn cỏ lùng thì bằng cách khẳng định: đừng hành động trước thời gian, đừng muốn dẹp bô công việc của Thần dữ trước mùa gặt. Xin nhớ là vào thời Chúa Giêsu, sự nóng lòng này đã khiến người ta tin rằng việc giải phóng dân thánh và việc tiêu diệt quân vô đạo sẽ xảy ra ngay lập tức (x. các Thánh vịnh của Salomon và các bản văn Qumrân). Do đó họ không thể nghĩ là có việc chống đối lại Đấng Cứu thế (dụ ngôn người gieo giống) và việc chung sống, lâu dài với sự dữ trong thời Đấng Messia (dụ ngôn cỏ lùng).
(Chú thích về các công thức nhập đề của các dụ ngôn):

Như các dụ ngôn đương thời, dụ ngôn của Chúa Giêsu xuất hiện dưới hai hình thức căn bản:

1/ Những dụ ngôn bắt đầu với một tiếng chủ cách (nominatif) (chủ từ): đó là các câu chuyện đơn giản không có động thức nhập đề, ví như dụ ngôn người gieo giống ("Này người gieo giống đi ra gieo lúa").

2/ Những dụ ngôn bắt đầu với một tiếng ở dữ cách (datif) (tức từ gián tiếp) tương đương với chữ "Le" trong tiếng Aram. Đa số dụ ngôn của các giáo sĩ bắt đầu với các chữ ấy: MashalLe (người ta hay gặp chẳng hạn: Mashal. Le mélék shé: “Một dụ ngôn. Giống như ông vua kia..."). Ngữ điệu đó là một cách nói rút gọn, hay một lối viết tắt của câu émshol Lekha, Úlashal. Le ma haddabhar dom? Le... = "Tôi muốn kể cho anh một dụ ngôn. Tôi sẽ so sánh sự vật với cái gì? Thì nó cũng giống như... ". Thỉnh thoảng người ta thay thế ngữ điệu dài dòng đó bằng một tiếng dữ cách duy nhất.

Trong các dụ ngôn của Chúa Giêsu, ta gặp một công thức nhập đề dài ở dữ cách nơi các câu hỏi đi trước dụ ngôn của Mc 4, 30 tắt: "Làm sao mà so sánh Nước Thiên Chúa hay lấy gì mà ví nó được? Thì cũng như..." hoặc của Lc 13, 20t: "Ta sẽ lấy gì mà so sánh Nước Thiên Chúa?".

Tương ứng với công thức vắn với dữ cách khởi đầu, là các chữ hôs, hôsper, "như" viết ra tiếng Hy lạp là homoiôthêsetai, homoiôthê, homoios estin, "giống như"; trong căn ngữ của 5 công thức này, cũng có cùng một giới từ Aram là "Lc". Như vừa nói, chữ "Le" này là một lối viết tắt, nên không chỉ được dịch là "giống như song là: "Về... thì cũng giống như...". Trong nhiều trường hợp, chính nội dung của dụ ngôn buộc ta phải để ý đến lối viết tắt của công thức nhập đề đó, vì công thức này thay đổi điểm ta muốn so sánh. Trong Mt 13, 45, Nước Thiên Chúa rõ ràng là không "giống như người thương gia", mà giống như "viên ngọc quý"; trong Mt 25, 1, nó không "giống như mười trinh nữ" mà giống như bữa tiệc cưới; trong 22, 2 nó không "giống như vua kia" mà giống như các cuộc vui ở tiệc cưới; trong 20,1 Nước Thiên Chúa không "giống như gia chủ" nhưng giống như việc trả lương; trong 13, 24, nó không "giống như ' người kia gieo giống tốt trong ruộng mình", mà giống như mùa gặt hái; trong 18, 23 nó không "giống như ông vua trần thế" mà giống như việc tính sổ. Trong mọi trường hợp trên, ta tìm ra điểm so sánh đích thực khi nhớ rằng: dưới thành ngữ Hy lạp homoios estin "giống như", tiềm ẩn một chữ "Le" Aram, mà ta phải dịch là: "Về.... thì cũng giống như..".

Nhận xét này cũng có giá trị đối với các trường hợp khác trong đó ta thường không thấy lối viết tắt của công thức nhập đề. Không thể dịch Mt 13,31 là "Nước Thiên Chúa giống như hạt cải..." mà phải dịch: "Về Nước Thiên Chúa thì cũng giống như hạt cải... ", vì chẳng phải với hạt cải mà Nước Thiên Chúa được so sánh, nhưng là với cây to lớn phát sinh từ hạt cải và làm chốn nương náu cho chim trời. Ở trong Mt 13, 33 cũng thế: Nước Trời không "giống như men" mà giống như bột dậy lên (coi Rm 11,16) và trong Mt 13,47 Nước Trời không được ví với chiếc lưới đánh cá, nhưng như việc lựa lọc cá bị mắc vào lưới.

"Hãy để chúng mọc lên cả hai cho đến mùa gặt": Trong suốt cả dụ ngôn, ông chủ luôn tỏ ra tự tín. Khi được hỏi về nguồn gốc cỏ lùng, ông không chút ngần ngại tuyên bố: cỏ lùng do kẻ thù gieo. Ông cũng tỏ ra tin tưởng vào giá trị hạt giống của ông, và biết chắc cỏ lùng sẽ không tài nào thắng thế. Kể cũng lạ khi ở đây hầu như không biết đến nguy cơ làm chết ngạt hạt giống tốt, cái nguy cơ đã được tỉ mỉ mô tả ở dụ ngôn người gieo giống trước (13,7).

"Một hạt cải": Tính cách nhỏ bé của hạt cải được đưa vào ngạn ngữ Palestine. Nhưng cây cải lại cao đến 2 hay 3 mét, đứng quanh vùng có thể thấy. Tuy nhiên dù cao lớn (arbuste), nó cũng không phải là cây (arbre) như dụ ngôn nói.

“Thành một cây”: Trong Cựu ước, cây có chỗ cho chim trời nương náu là một hình ảnh thường dùng để chỉ một vương quốc hùng mạnh bảo đảm được an ninh cho thần dân mình (Ed 17, 23; 31, 6; Đn 4, 9; 11, 18). Trong văn chương khải huyền, giáp sĩ hay targum, chim tượng trưng cho dân ngoại đến từng lũ, từng đoàn. Ở đây Mt nhấn mạnh đặc tính cánh chung của dụ ngôn (nhưng điều này không loại bỏ lối áp dụng có tính cách Giáo Hội học) khi phóng đại thân cây rau lớn (arbuste) thành một "cây to (arbre).

"Bà nọ lấy, vùi...": dịch sát chữ: che dấu", hạn từ này đưa về ý tưởng chủ yếu của cả phần này.

"Ba thúng bột": Đây là một khối lượng bột rất lớn, trên 39 lít, nghĩa là khoảng 60-70 ký lô. Con số ba thúng bột này. Khác hẳn lấy từ St 18. 6 (x.Tl 6, 19 và 1 Sm 1, 24) là quá phóng đại vì lượng bột đó làm đủ bánh nuôi trên 150 người ăn! Viễn ảnh dị thường của bữa ăn này xem ra muốn đưa ta nghĩ đến bữa tiệc cánh chung. Ở dây Matthêu nhấn mạnh tới hiệu lực của men, thứ có một sức mạnh lạ lùng như vậy. "Cho đến khi tất cả dậy men": hiệu lực của Nước Trời lan rộng đến toàn thể sức mạnh của nó thật vô song, dù bề ngoài xem ra yếu ớt.

Chúa Giêsu dùng dụ ngôn mà nói hết thảy các điều ấy với dân chúng, và Người không nói với họ điều gì mà lại chẳng dùng dụ ngôn": Trong văn mạch Mt, phải giới hạn nghĩa của chữ “hết thảy" vào lời giảng dạy của Chúa Giêsu về Nước Trời. Vì không phải bao giờ Người cũng nói bằng dụ ngôn; nhưng khi dạy về mầu nhiệm Nước Trời, thì Người luôn dùng thể văn ấy. Phần thứ hai của câu ngụ ý rằng Chúa Giêsu, để dạy về Nước Trời cho quần chúng, đã cẩn thận nói bằng dụ ngôn, hầu tránh mọi hậu quả tuyên truyền có tính cách thiên sai chủ nghĩa.

"Sấm ngôn của ngôn sứ": Matthêu bảo là một ‘ngôn sứ’ nhưng lại trích dẫn một tác giả Thánh vịnh, Asaph. Có thể ông nhớ Asaph ấy đã được gọi là "ngôn sứ" trong 2 Sk 29, 30; nhưng đúng hơn, có Iẽ ông quan niệm tất cả các sách Cựu ước đều có giá trị sứ ngôn... Thế mà sách thánh đã tiên báo Đấng Messia sẽ dùng dụ ngôn mà phán dạy.

“Con cái của Nước... con cái quỷ dữ ”: Cách phân chia nhân loại thành hai khi đối nghịch nhau đây rất thông dụng trong Do thái giáo đương thời. Ta thường gặp lối phân chia đó trong các văn tập của Qumrân. Chỉ khác một điều là: đối với Qumrân, nói kẻ lành đều ở trường phái của họ. Tất cả kẻ dữ là những người bên ngoài; còn ở đây cá hai đều sống lẫn lộn, và các môn đồ không có quyền tách rời họ ra.

“Cũng như người ta nhặt cỏ lùng...”: Trong dụ ngôn, trọng tâm nằm trên quyết định của ông chủ là để cỏ lùng mọc chung với giống tốt, trong lúc ở phần giải thích lại là đề tài mùa gặt tương lai, là số phận chung cục của cỏ lùng và lúa: trên 7 câu giải thích, đã có tới 4 câu nói về mùa gặt tương lai. Có lẽ Matthêu đã lan rộng một kết luận nguyên thủy vừa phải hơn của Chúa Giêsu, để đánh đổ một niềm vững tin tự đại có khuynh hướng lan tràn giữa Kitô hữu thời ông: việc gia nhập Giáo Hội chưa phải là được cứu độ cách dứt khoát; còn có cuộc phán xét sau cùng sẽ vô cùng khốc liệt đối với các Kitô hữu xấu xa.

KẾT LUẬN
Được bắt đầu với việc rao giảng Lời, Nước Trời thoạt tiên rất nhỏ bé khiêm hèn. Nó không áp đặt trên mọi tạo vật một cách hách dịch và ngay tức thời. Tình trạng hiện nay của nó còn hỗn tạp hồ đồ: kẻ lành người dữ đều triển nở trong nó. Và chỉ vào cuối cuộc hành trình dài đằng đẵng? được theo đuổi một cách âm thầm trong cảnh tranh tối tranh sáng. Nước Trời âm ỉ quy tụ toàn thể vũ trụ trong Hòa bình của Chúa Kitô.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Người môn đồ Chúa Kitô sẽ chấp nhận hiện tại dễ dàng hơn nếu biết tin tưởng như đã nói vào tương lai. Họ biết rõ rằng các bước đầu thật khiêm tốn như thế (Giáo Hội luôn luôn là thiểu số trong trần gian) chỉ là các dấu chỉ bất tương xứng vai công trình một ngày kia sẽ hoàn tất. Họ hoàn toàn tin tưởng ở Thiên Chúa. Thiên Chúa há không thể biến sỏi đá thành con cái Abraham được sao, nghĩa là Ngài không thể từ hư vô mà gầy dựng nên một dân tộc, một dân cho riêng Ngài được sao (Mt 3, 9)? Cái nhìn của Thiên Chúa khác với cái nhìn của người đời các vật tầm thường đối với Ngài lại là to tát, và cái lớn lao trước mặt người đời đôi khi lại làm Ngài ghê tởm.

2) Người hoàn toàn phó thác cho Nước Thiên Chúa, để Nước Chúa biến đổi, tái dựng mình, thì đúng là men đích thực của môi trường họ sống. Cái sinh lực liềm tàng trong họ cũng xâm nhập vào mọi thứ chung quanh và lan tràn đến hết mọi người. Tình yêu ở trong một con người luôn chiếu dọi cho những kẻ chung quanh.

3) Hạt giống tốt đã được gieo đầu tiên và ở khắp nơi, thì hạt lúa tốt sẽ được gặt hái sau cùng và khắp mọi chốn. Cỏ lùng không phải là nguyên thủy và cùng đích, chẳng phải là alpha và omêga:- Alpha và Omêga chính là hạt lúa tốt vậy.

4) Cái nhìn của Kitô hữu về thế giới, về tha nhân phải là một cái nhìn tích cực. Không phải vì ta có mắt tốt hơn những người khác để phân biệt cỏ lùng với lúa tốt hay bàn tay tài khéo hơn để tách rời thứ này khỏi thứ kia. Nhưng vì cái nhìn của ta là một cái nhìn đức tin: ta biết hạt giống hôm nay đang triển nở mà không gì ngăn được vì ta tin vào Chúa Giêsu Kitô; nhưng niềm xác tín này ta được không phải nhờ một phân tích “khoa học" về lịch sử đâu. Ta chẳng thấy hạt giống tốt ưu thắng và sẽ không bị chết ngạt, nhưng ta tin diều đó. Niềm tin làm ta hy vọng mãnh liệt vào con người, sự vật, biến cố.

5) "Óc kỳ thị" không chết trong ta đâu. Ta vẫn luôn bị cám dỗ lên án hay loại trừ những kẻ xem ra chẳng có cùng quan niệm như ta về chân thiện mỹ.

6) Ta thường đặt câu hỏi như các đầy tớ trong dụ ngôn: Từ đâu mà có biết bao sự dữ trong trần gian? Tại sao thế giới không nên tốt hơn sau 20 thế kỷ Kitô giáo? Vì sao Giáo Hội vẫn luôn có những khuyết điểm sờ sờ như vây? Chúa Giêsu trả lời bằng cách cho thấy tính cách hàm hồ không thể tránh được của toàn thể tạo vật đang trên đường tiến về Nước Trời. Một tính cách hàm hồ phổ quát, lan tới các tập thể cũng như cá nhân, Giáo Hội cũng như tín hữu. Điều đó có nghĩa là chân, thiện, mỹ không hiện hữu ở tình trạng hiển nhiên, y như điều sai quấy, xấu xa. Không một ai, không một tập thể nào hoàn toàn phù hợp với Nước Trời, nhưng cũng chẳng ai xa lạ, chẳng bị khai trừ khỏi Nước ấy.

7) Thiên Chúa là Đấng kiên nhẫn: Ngài chịu đựng nhiều thế kỷ tội lỗi vì viễn ảnh rộng lớn của Ngài là ban ơn cứu độ cho ta (Rm 3, 26). Ngài ghét tội lỗi, nhưng yêu kẻ biết thống hối ăn năn dù tội lỗi đến đâu (Rm 2, 4). Nếu Thiên Chúa không kiên nhẫn, bây giờ ta ở đâu rồi?

8) Đức kiên nhẫn ấy cũng cần cho con người. Do đấy có nhiều yêu sách xem ra mâu thuẫn nhưng phải biết dung hòa: không dung túng sự dữ, song vẫn kính trọng nhân vị và khả năng hoán cải của tội nhân, vẫn bảo vệ các tâm hồn ngay chính khỏi nhiễm lây gương xấu, tà đạo, thái độ dửng dưng tôn giáo. Do đó ngay từ nguyên thuỷ, ta thấy Giáo Hội khi thì nghiêm khắc (1Cr 5, 3- 5) lúc lại thông cảm (1 Cr 5, 9-10) tùy hoàn cảnh cụ thể của các tâm hồn. Hai thái độ ấy đều chính đáng và cần thiết, dù theo một lường độ khó mà xác định. Chúng cũng đề phòng ta khỏi bị ảo tưởng đạt được những trạng thái dứt khoát rõ ràng ở đời này. Một cộng đoàn Kitô hữu lý tưởng trong đó chỉ có các thánh, chỉ gồm người công chính là một điều hão huyền. Nếu đường ranh giới phân chia sự dữ điều lành khá rõ ràng, thì lại rất lu mờ giữa kẻ lành người dữ (lấy quyền nào mà cho mình là "tốt"?). Vì kẻ sống trong tội lỗi hôm nay, mai ngày có thể trở nên một thánh Augustinô hay một Charles de Foucauld.

 

17. Chú giải của Fiches Dominicales.

DỤ NGÔN HẠT CẢI VÀ CỎ LÙNG, BỘT VÀ MEN

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1) Theo gương nhẫn nại của Chúa
Chúa nhật trước, chúng ta đã bắt đầu đọc bài giảng thứ ba trong năm bài giảng lớn của Phúc âm thánh Matthêu là dụ ngôn Người gieo giống. Hôm nay chúng ta tiếp tục với ba dụ ngôn khác. Trước tiên là dụ ngôn hạt cải và cỏ lùng, rồi sau là dụ ngôn bột và men. Cả ba đều tiếp theo sau phần giải thích dụ ngôn người gieo giống.

Dụ ngôn hạt cải và cỏ lùng đều mở đầu giống như dụ ngôn người gieo giống: "Nước Trời thì ví như người kia gieo giống tốt trong ruộng "mình...? Thế rồi đột nhiên câu chuyện trở nên bi đát: các đầy tớ sửng sốt khám phá thấy cỏ lùng đã mọc lan khắp cả ruộng lúa vừa gieo. Họ hỏi ông chủ: "Cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ông đáp: "Kẻ thù đã làm đó". Họ sẵn sàng đi ra ruộng ngay để nhổ hết thứ cỏ dại làm hư ruộng của chủ.
·        "Vậy ông có muốn chúng tôi nhổ cỏ đi không”. Phản ứng tự phát của những người đầy tớ trong dụ ngôn cũng đúng là phản ứng của những người đã mắt thấy tai nghe bài giảng của Đức Giêsu, phản ứng của những tín hữu ở mọi thời. Đó là phản ứng của thánh Gioan Tẩy Giả, người đã vẽ nên bức tranh gây ấn tượng về việc Đấng Mêsia sắp đến: "Tay Người cần nia. Người sẽ rê sạch lúa. trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tốt là đốt đi" (Mt 3,12). Hụt hẫng vì không thấy cách xét xử của Chúa diễn ra y như mình đã loan báo, nên từ trong ngục tù, Người sai hai môn đệ đến hỏi Chúa rằng: "Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác”. Đó là phản ứng ngỡ ngàng của tất cả những ai đã nghe lời Đức Giêsu loan báo: "Nước Trời đã đến gần, thế mà họ lại chẳng thấy có gì được phác hoạ giống như sự xét xử vẫn trông đợi khi Nước này tới.

Đó là phản ứng tỏ ra thất vọng của mấy môn đệ thân tín của Chúa khi thấy người ta không lịch sự tiếp đón Thầy mình. Giacôbê và Gioan, hai con ông Dêbêđê rất bực mình vì thái độ tiêu cực của một thôn làng miền Samari, liền hỏi Chúa: “ Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa trời xuống tiêu diệt họ không?”.

Thực vậy, làm sao tin được rằng những hành động chẳng có gì là vẻ vang của Chúa Giêsu như chữa lành người bệnh, quan tâm đến các trẻ em và những người hèn mọn, tiếp xúc gần gũi với những người tội lỗi, mà lại loan báo và thực thi Nước Chúa một cách hiệu quả đang lúc giờ phút xét xử của Thiên Chúa còn muộn màng, chưa tỏ hiện và sự ác thì hoành hành và có mặt khắp nơi.
·        Ông chủ bình tĩnh đáp lời những người giúp việc tỏ ra quá mẫn tiệp: "cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt... sợ rằng khi nhặt cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa”.
Từ hình ảnh mùa gieo Nước Thiên Chúa đến-đến mùa gặt kèm theo việc đập lúa - hình ảnh việc xét xử - có một khoảng giữa: Lúc này đang là thời kỳ lúa lớn lên là thời gian nhẫn nại của Thiên Chúa: nếu Thiên Chúa gớm ghét sự ác, thì Người vẫn cứ phải yêu thương con người - kẻ tội lỗi cũng như người công chính - và Người biết rõ tiềm năng lạ lùng của Lời gieo trong lòng họ. Ngày thu hoạch mùa và lựa lọc sẽ đến vào giờ của Người; ngày đó không thể dự đoán trước. ông chủ nói với các gia nhân ông rằng: "Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: Hãy nhặt cỏ lùng trước đã, bó thành bó mà đốt đi còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi. Là một lời mời gọi sống theo gương nhẫn nại của Thiên Chúa, dụ ngôn này đồng thời cũng đề nghị ta suy niệm về thời gian của Giáo Hội: đó là thời gian mà tiềm năng của Lời đang hoạt động, bất chấp mọi trở ngại và chống đối; thời gian chờ đợi ngày cánh chung, thời gian của niềm hy vọng. Lời giải thích dụ ngôn chúa có ý nhắm nói năng cho các môn đệ khi đã về tới nhà xem ra xa với bài học về lòng nhẫn nại mà dụ ngôn đã đưa ra. Điểm nhấn mạnh ở đây không còn nhắm tới sự sống giữa giống tốt và cỏ lùng nữa, mà là sự chọn lựa cuối cùng; đang khi chờ đợi sự chọn lựa này, thì phải cố gắng sống không như "con cái ác thần" mà như "những con cái Nước Trời".

2….trong niềm hy vọng hạt giống sẽ nẩy mần:
Xen giữa dụ ngôn cỏ lùng và người gieo giống được giảng cho đám đông, mà giải thích thì dành cho các môn đệ, ta thấy có hai dụ ngôn mới: dụ ngôn hạt cải và dụ ngôn men trong bột. Dụ ngôn này cũng như dụ ngôn kia đều nói đến mối tương quan be,1ớn, mà có ý làm nổi bật sự bất cân xứng khác thường giữa một bên là cái bé nhỏ, khiêm tốn hầu như vô nghĩa lúc khởi đầu và bên kia là sự bành trướng lạ thường khi tới đích.

Quả thực, chẳng có tỉ lệ cân xứng chút nào giữa "một hạt nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống" và một cây lớn lên từ hạt đó" vì khi mọc lên thành cây lớn nhất trong vườn, nó trở thành cây cổ thụ, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được!".

Và thật là chẳng cân xứng chút nào giữa một bên là một dúm men hầu như không trông thấy mà người phụ nữ vùi vào trong bột, và ba đấu bột là dùng để ủ men: từ ba trở thành 40 hạt đủ bảo đảm bữa ăn cho hơn 100 người!

Cũng vậy, để làm cho Nước Chúa đến, Thiên Chúa cũng không xử sự khác người nông dân khi gieo vào đất một hạt bé nhỏ, hay như người đàn bà vùi một chút men vào bột. Dù bề ngoài xem quá khiêm tốn, sứ mệnh của Đức Giêsu vẫn cứ khai mào việc Thiên Chúa nhất định can thiệp vào lịch sử của con người. Vậy thì có lẽ nào mà phải nghi ngờ về kết quả chung cuộc?

BÀI ĐỌC THÊM:
1) “Chưa nhẫn nại đợi chờ”
"Sự nhẫn nại đợi chờ này thực là rõ nét trong dụ ngôn cỏ lùng, tâm điểm của Tin Mừng hôm nay. Cánh đồng được gieo toàn hạt giống tốt. Con người đã gieo vào trần thế những con cái Nước Trời. Ban đêm kẻ thù xuất hiện, Satan tới gieo cỏ lùng. Và thế là có cảnh lẫn lộn trên trần gian, người lành kẻ dữ cùng chung nhau một mảnh đất. Nếu chỉ thoáng nhìn, đôi khi khó mà không phê phán Thiên Chúa. Làm sao Chúa lại để điều ác phát triển như vậy? Những người xấu đôi khi xem ra lại được ưu đãi trong đời sống vật chất hơn những kẻ lành. Đó là vấn đề thường nhật mà không phải chỉ riêng cho những người chân chất. Thiên Chúa để cho như vậy. Và quả thực Thiên Chúa muốn để cho mọc lên hạt giống Người đã gieo; đó là người con Chúa đã tuyển chọn, những người Chúa đã ban ơn thanh tẩy, những người mà Thần Khí đã biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Con của Người. Chúa để cho họ phát triển, cùng lúc để cho cỏ lùng Người đã không gieo và không thể gieo lớn lên. Nhưng Người kiên nhẫn đợi chờ. Thế giới phải đi con đường của mình, và Thiên Chúa cứ để cho họ đi. Người đợi cho đến mùa thu hoạch. Cuộc đời trần gian cứ trà trộn như vậy, nên tốt hơn ta đừng can thiệp quá sớm kẻo làm chết đi cái gì còn đang sống. Nhưng Nước Chúa vẫn không ngừng tiến triển như hạt cải như, bột lên men: Chúa đợi chờ cho mọi cái đạt tới độ chín mùi. Thánh Matthêu khi viết điều này không phải là người không biết đến tình trạng của cộng đoàn mà ngài trách nhiệm. Ngài thấy cộng đoàn ấy lớn lên bước đầu từ hạt cải nhỏ tí ti, rồi trở thành cây lớn. Ngài hiểu biết rằng men đang nằm trong bột, nhưng ngài cũng không thể không biết rằng cỏ lùng lẫn lộn với hạt giống. Chắc chắn điều đó tạo nên vấn đề cho các tín hữu của ngài, cũng như ngày nay vậy và vấn đề không chỉ đơn giản là trấn an những nổi lo âu và hâm nóng lòng tin tường vào Chúa quan phòng. Chứng tỏ cho thấy rằng Nước Chúa vẫn có sức năng động, mặc dầu có những kẻ thù, mặc dầu có những khiếm khuyết, và đồng thời giúp cho cộng đoàn biết suy nghĩ về trách nhiệm của mình đang khi chờ đợi Ngày hội ngộ, đấy mới phải là mục tiêu mà thánh sử nhắm tới.

2. “Hạt giống tốt và cỏ lùng lẫn lộn xà ngầu”
Phân loại nhưng "người lành", "kẻ dữ ” thực ra có quá dễ dàng như thế không? Chúa Giêsu phán rằng sẽ chỉ đến mùa gặt thì việc phân biệt lựa chọn (nghĩa là đến ngày tận thế) mới thực hiện được: "Con người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người. Phải, việc đó sẽ được thực hiện, nhưng chỉ những tình huống tuyệt vọng nhất, nơi những con người xem như tồi tệ nhất, vẫn còn lập loè vài tia sáng. Hơn nữa, trong tình liên đới giữa con người với nhau, những người bị hãm hại và bị ức hiếp không để mình chịu thua sự độc ác của những kẻ hành hạ mình, mà lại trở thành con đường hộ phù và cứu độ cho những kẻ ấy. Đức Giêsu người đứng đầu các kẻ công chính khi hấp hối trên thập giá đã cầu nguyện: "lạy Cha, xin tha cho chúng..!”. Nét đẹp của con người, vẻ cao cả của một tấm lòng, đức tận tuỵ hy sinh của tình yêu thương cho đến tận cùng cũng biểu lộ cả trong những tình huống tội lỗi hỗn loạn hoàn toàn. Đôi khi chính ở đó mà những vẻ đẹp kia lại tìm những cứ chỉ yêu thương và anh hùng bất ngờ, phải là phép lạ khi hình ảnh của Thiên Chúa thường bị biến dạng mà vẫn ẩn vùi trong thâm sâu của bản thân mỗi người phải là phép lạ khi tình yêu vẫn le lói như một tia sáng yếu ớt và kiên cường ngay ở nơi xem ra chỉ cồ bóng tối; hạt giống nhỏ xíu của Nước Trời "loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống" mà người ta tưởng chừng nó phải mất hút, thế mà lại xuyên qua được đá cứng nhất nhờ sức mạnh của nhựa cây? Hạt giống rất quý giá đó mà Thiên Chúa vốn nhẫn nại không cho phép người ta tạo nguy cơ loại bỏ nó, chỉ vì vội muốn nhổ ngay đám cỏ dại. "Sợ rằng khi nhặt cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa... ". Ta phải học cho biết hy vọng cả khi phải nguyện vọng như thế nào?; phải có lòng trắc ẩn và xót thương biết bao để biết tôn trọng tình trạng "'hổ lốn" mà ta vốn thích phân loại cho rõ rệt! Ta phải học đức nhẫn nại của Chúa, một sự nhẫn nại không mệt mỏi cho đến tận thế, học thương yêu con người, hết mọi người để cho không một ai phải hư mất, học lòng thương yêu của Chúa Con, Đấng đã mặc lấy xác phàm để các anh em nhân loại của Người không phải là những nạn nhân của chính lòng độc ác của họ. Đức nhẫn nại của Cha đâu có biết đến giới hạn? "Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt...? Con người thật là quý giá, nên phải coi chừng đừng để mất đi một mảnh vụn nào hết! Thiên Chúa không hề mệt mỏi khi phải kiên nhẫn "cho đến ngày tận thế".


18. Suy niệm của Noel Quesson.

Đức Giêsu trình bày cho dân chúng nghe một dụ ngôn khác: "Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng, vào giữa lúa, rồi đi mất.”

Vấn đề sự ác là vấn đề trầm trọng nhất trong mọi vấn đề và làm cho mọi người phải suy nghĩ. Ai trong chúng ta vấp phải sự ác trong da thịt mình, khi bệnh hoạn… trong lòng mình với mọi vết thương tình cảm... trong lương tâm khi bị tội lỗi cắn xé... trong gia đình, công việc của mình vì những khó khăn, trong quan hệ nhân bản... Trong thế giới vì những áp bức và bất công đủ mọi loại... Và cái chết? Đối với tất cả mọi người cái chết là biểu tượng không tránh khỏi.

Tại sao có sự ác trong thế giới này?
Chúng ta có sẵn sàng lắng nghe một trong những lời giải đáp khả hữu? Lời giải đáp của Đức Giêsu.

Theo cách thức đơn giản và không thể bắt chước được của Người, Đức Giêsu chỉ cho chúng ta thấy lòng chúng ta như thế nào? Một cái nhìn hiện thực, không phải là giấc mơ hoang tưởng của những kẻ lạc quan, cũng không phải là sự chê bai có hệ thống và nhị nguyên thiện ác của những kẻ bi quan. Nhân loại là một hỗn hợp của thiện và ác, của “ân sủng" và "tội lỗi". Trong lòng của chính tôi, có cả hai...cái tốt và cái ít tốt hơn. Và trong mọi con người mà tôi gặp gỡ hoặc sống chung, có cả hai... điều tốt và điều ít tốt hơn. Nhưng như các bạn đã nhận thấy, có một sự khác nhau giữa thiện và ác. Hai người gieo hạt không ngang bằng nhau. Người này gieo hạt ban ngày còn người giao vào ban đêm, lén lút lợi dụng lúc người ta không để ý. Theo những bước chân của Đấng gieo hạt, một kẻ gieo hạt khác lén đến ban đêm để thêm cỏ lùng?
Lạy Chúa, khám phá được điều đó thật tốt cho con!.
Phải, chính Chúa, Đức Giêsu cho con biết rằng điều xấu ác trong con và trong những người khác không phải là khuôn mặt đích thật của chúng con... mà nó lẻn vào một cách lén lút, chúng ta không hay biết, trong những kẽ hở của vô thức. Trong lúc người ta đang ngủ, kẻ thù chợt đến... hắn gieo cỏ lùng... và bỏ đi!

Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?". Ông đáp: "Kẻ thù đã làm đó?” Đầy tớ nói: "Vậy ông có muốn chúng tôi đi gom lại không?” Ông đáp: Đừng! sợ rằng khi gom cỏ lùng các anh làm bật luôn rễ lúa..."

Trong lời đáp ấy, có điểm làm người ta ngạc nhiên, trong khi mà dụ ngôn "người gieo hạt" Chúa nhật vừa qua, rõ ràng Đức Giêsu đã nhấn mạnh trên nguy hiểm của loài cỏ dại có thể lâu ngày làm cây lúa chết nghẹt. Vậy chúng ta cần phải "lắng nghe" một cách sâu xa hơn nhiều... dụ ngôn, ẩn ngữ, ý nghĩa được che giấu.

"Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt...”
Đây là quyết định của "ông chủ cánh đồng". Thiên Chúa dành cho Người "sự phán xét" sau cùng. Trong lúc chờ đợi, Người yêu cầu chúng ta không nên "xét đoán". Thiên Chúa nhẫn nại hơn chúng ta. Tạm thời, Người chịu đựng cỏ lùng: đây là một biểu lộ lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa đối với chúng ta. Và chính tôi là người được hưởng lợi bởi sự nhẫn nại ấy của Thiên Chúa: chính trong lòng tôi rễ lúa mì và rễ cỏ lùng đan kết vào nhau.

Lạy Chúa là Chủ cánh đồng, Chúa đã chấp nhận nguy cơ của cỏ lùng nhẫn nại: mầm sự sống và hạt giống sự chết sẽ càng lớn lên.

Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi những thứ óc bè phái của chúng con, khỏi những phán đoán nghiêm khắc và vội vàng. Lạy Chúa, xin Chúa giải thoát chúng con khỏi sự khắt khe, những cuộc chiến tranh tôn giáo, những ý thức hệ đảng phái. Lạy Chúa, Chúa không muốn có một Giáo Hội của những người "Thanh khiết" những người thuần túy": Giáo Hội của Chúa là một tập hợp của những người tội lỗi. Chúng con... các Kitô hữu, chúng con không hơn gì những người khác. Với mọi người, với mọi kẻ tội lỗi! Chúa cho họ cơ hội để có thể trưởng thành, để có thể hoán cải.

Tôi có thể áp dụng dụ ngôn này vào những hoàn cảnh sống của tôi không?

Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: "Hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi".

Mùa gặt! Đây là hình ảnh tuyệt vời của Kinh Thánh (Giê-rê-mi-a 51,33; Hô sê 6,11; Giô-en 4,13). Ở Israel, mùa gặt lúa mạch vào tháng tư và mùa gặt lúa mì vào tháng năm... như trong mọi nước khác, ở những mùa màng khác, đó là một cơ hội để quần chúng vui mừng (R 2; Is 9,2; TV 126,6). Sau những công việc nặng nhọc, mùa gặt tỉa: phần thưởng và lễ hội của người nông dân. Mùa gặt trong Kinh Thánh thường là biểu tượng cho cuộc Phán xét vào ngày Thế Mạt (Is 28,27; 17,5; Am 9,13)...

Có phải, tôi sẽ khám phá ý nghĩa ẩn giấu của hình ảnh rất đẹp đẽ ấy?

Đối với Đức Giêsu, tạo vật tiến về mục đích của nó:
Người biết rằng lúa mì sẽ không bị hủy hoại, mặc dù mọi nỗi sợ hãi chính đáng mà chúng ta có thể có phải chấp nhận quan điểm của Đức Giêsu. Phải kiên nhẫn cộng tác vào công việc chậm chạp của Thiên Chúa đồng thời trông cậy vào Người. Điều đó đòi phải có một lòng nhân từ cao cả Chúng ta hãy tôn trọng kẻ tội lỗi và kẻ ác vì cái phần tốt đẹp còn ở trong họ, và vì luôn còn có khả năng họ sẽ hoán cải. Tôi phải tập nhìn điều tốt đẹp có trong nhân loại và không chỉ nhìn cỏ lùng trong cánh đồng. Lời kêu gọi ấy là để đào sâu đức tin của chúng ta: Bạn có thật sự tin vào Thiên Chúa không?

Dẫu sao chúng ta đã được cảnh báo. Sau cùng, khi mùa gặt đến, chúng ta sẽ thấy những hoa trái thật sự của những nỗ lực mà chúng ta đã làm trong cánh đồng của Chúa Cha.

Cha mẹ, vợ chồng, các chiến sĩ tông đồ hãy lắng nghe, lắng ghe điều đó.

Đức Giêsu còn trình bày cho họ nghe một dụ ngôn khác. Người nói: "Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ cải lớn nhất! nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được".

“Một" hạt cải... một thôi! Xem ra buồn cười khi chỉ gieo một hạt cải.
“loại nhỏ nhất”: hầu như khó nhìn thấy trong lòng bàn tay. Tuy nhiên, mầm sống ấy sẽ mọc chồi xanh, rồi một cái cây... nếu bạn kiên nhẫn chờ đợi và chăm sóc cây trồng.
“Nước Thiên Chúa" là như thế!
Lạy Chúa tôi, tại sao thế gian dường như còn xa Triều đại của Chúa biết bao? Tại sao có quá ít người đi theo đến cùng Tin Mừng của Chúa?

Cha mẹ, vợ chồng, chiến sĩ, tông đồ... hãy nhìn, nhìn kỹ hạt giống ấy trong thế gian. Điều đáng kể không phải là cái vẻ hiện nay của chúng. Các bạn hãy tưởng tượng đến một cây lớn mà Đức Giêsu đã nhìn thấy trong đôi mắt sống lại của Người. Không còn là hạt cải bé tí xíu... bạn hãy tưởng tướng những con chim sẽ hót trên cây? Và bạn hãy gieo nó vào lòng đất... hạt cải duy nhất của bạn, hạt nhỏ nhất.

Người còn kể cho họ một dụ ngôn khác: “Nước Trời cũng giống như chuyện một nắm men bà kia lấy vùi vào ba đấu bột, cho đến khi tất cả bột dậy men”.

Đây cũng là sự không tương xứng về tỉ lệ giữa lúc đầu và lúc cuối giữa nguyên nhân và hậu quả: Một nhúm men nhỏ, trộn với bốn mươi ký lô bột? Một sức mạnh ẩn giấu của sự sống! Tác vụ của Đức Giêsu đã là một hoạt động rất nhỏ bé trong một vài tháng, mất hút trong một góc của một tỉnh trong đế Quốc La Mã. Nhưng Đttc Giêsu mơ mộng. Người nhìn xa. Tầm nhìn của Người trải rộng đến thời thế mạt, khi "Thiên Chúa sẽ là tất cả trong tất cả khi mọi thứ bột của nhân loại được dậy men Phúc âm. Nhưng về phần tôi, tôi sẽ làm thế nào cho công việc đó tại nơi tôi đang sống?

Một người dù nam hay nữ để cho mình biến đổi thành men. và để cho mình bị vùi xuống, trộn lẫn vào thế gi an… sẽ trở thành một sức sống vô hình thông ban cho tất cả môi trường mà mình được trộn lẫn vào. Tình yêu cư ngụ một con người, đức tin làm cho sống, hy vọng nâng đỡ những thất vọng... đều là "men" làm dậy tất cả bột" một cách vô hình, chậm chạp. Những người kbác cần đức tin, niềm hy vọng, niềm vui, sự thanh khiết, can đảm và lương tri của bạn... Bạn có là một thứ men không?

Tất cả các điều ấy, Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói với đám đông; và Người không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn, hầu ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ: "Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa".

Với Đức Giêsu, nơi tín hữu phân biệt những thực tại “ẩn giấu” trong nơi thâm sâu của mình.

Bấy giờ, Đức Giêsu bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng: "Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe".

Matthêu phân biệt rõ ràng giáo huấn dạy cho mọi người cách công khai và một sự đào sâu hơn về giáo huấn cho người trong nhà và những người tìm hiểu sâu xa hơn. Có phải tôi thuộc về những người ham thích giáo huấn ấy hoặc thuộc những người chỉ bằng lòng với điều tối thiểu?

Lạy Chúa, xin giải thích cho chúng con...
Người đáp: "Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái ác Thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. Vậy như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù, gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi -nước của Người..."

Lạy Chúa nếu chúng con có làm người khác sa ngã, nếu chúng con có phạm tội, xin Chúa tha thứ cho chúng con.
Rồi quẳng chúng vào lò lửa, ở đó chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng: Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước Cha của họ. Ai có tai thì nghe.

Ở đây Đức Giêsu, sử dụng những hình ảnh thường thấy ở thời đại Người. Không nên giải thích những hình ảnh một cách cụ thể. Chúng có nghĩa là sự hủy diệt chung cuộc mọi sự dữ, là ngày tận thế. May thay! Điều đó sẽ được thực hiện như thế nào? Đó là mầu nhiệm không được tiết lộ.

Về phần những người: được cứu, họ sẽ chói lọi như mặt trời: đây cũng là một hình ảnh để suy niệm trong những tháng hè này.