CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN - B
ĐỨC CHA HÙNG VỊ GP. KOLTUM VA ĐC HAI GP. VINH LONG |
CHA MỚI TA ƠN |
MỪNG MẸ MÂN CÔI - BỔN MANG GIÁO HỌ BẮC CƯƠNG |
Lời
Chúa: Kn 7,1-7; Dt 4,12-13; Mc 10,17-30
MỤC LỤC
1. Được gấp trăm
2. Của cải
3. Không thể vào Nước Trời ư? – Yvon
Daigneault
4. Lướt thắng nghịch cảnh – Charles E.
Miller
5. Ai là kẻ 'giàu có'? – Achille
Degeest
6. Khôn ngoan – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt
7. Lựa chọn hai kho tàng
8. Giàu: tốt hay xấu - Gm. Arthur Tonne
9. Suy niệm của Noel Quesson
10. Giàu
11. Làm nhiều hơn
12. Tiền của
13. Dâng hiến
14. Chúa nhìn chàng
15. Chia sẻ- tiền của
16. Lòng nhân từ
17. Quan trọng
18. Bước theo Chúa Giêsu - Lm Nguyễn
Hữu An
19. Suy niệm của Lm Mark Link
20. Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux
21. Chú giải của Noel Quesson
22. Chú giải của Fiches Dominicales
1. Được gấp trăm.
(Trích trong 'Manna')
Suy Niệm
Khi đọc bài Tin Mừng trên đây ta nếm
được nỗi buồn của Đức Giêsu và của anh nhà giàu. Đức Giêsu buồn vì bị từ chối
bởi người mà mình yêu mến. Anh kia buồn vì có sự rạn nứt nơi bản thân. Anh đã
phấn khởi gặp Chúa, rồi ra đi đầy muộn phiền.
Thầy Giêsu đòi anh đúng điều anh muốn
giữ lại, vì của cải vốn là chỗ dựa của đời anh.
Anh sẵn sàng làm mọi điều Thầy đòi hỏi,
trừ việc bỏ chỗ dựa này.
Bây giờ anh thấy rõ hơn mình nô lệ cho
điều gì. Tiếc thay anh không có can đảm ra khỏi sự nô lệ này dù anh vẫn khát
khao sự sống đời đời.
Bi kịch của anh cũng là của chúng ta.
Ai trong chúng ta cũng từng bị giằng co
giữa ước mơ bay cao và sự kéo ghì của vật chất.
Của cải vật chất có sức hấp dẫn mãnh
liệt. Tôi làm chủ nó, nhưng sau đó nó lại làm chủ tôi và trở thành thịt xương
mà tôi không thể dứt bỏ.
Không chắc người giàu này sẽ bị luận
phạt, nhưng chắc chắn anh ta khó hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ đến với người dám
sống theo ý Chúa.
Người có của khó vào Nước Thiên Chúa
biết bao!
Vào thời Đức Giêsu, giàu có được coi là
một phúc lành. Vậy mà Ngài lại coi đây là một cản trở nguy hiểm.
Của cải dễ làm người ta khép kín trước
Thiên Chúa và nỡ tâm chà đạp lên quyền lợi anh em.
Tệ nạn tham nhũng, hối lộ ở Châu Á là
một thí dụ về nguy hiểm của tiền bạc.
Đức Giêsu và các môn đệ đã sống nghèo,
sống như những người lữ hành, không chỗ cậy dựa, để tín thác vào Cha và dễ dàng
đến với anh em.
Theo Đức Giêsu là chấp nhận tay trắng,
bấp bênh. Nhưng đừng quên theo Ngài cũng là trở nên giàu có.
Không phải sự giàu có do ích kỷ giữ
lại, nhưng là sự giàu có do mở ra trao hiến.
Không phải sự giàu có do tìm kiếm chiếm
đoạt, nhưng là sự giàu có đến như một quà tặng biếu không.
Theo Ngài không phải chỉ là bỏ nhà cửa,
ruộng vườn, bỏ những người thân yêu, bỏ đến cả mạng sống. Theo Ngài còn là được
gấp trăm ngay từ đời này, và nhất là đời sống vĩnh cửu mai hậu.
Khi Phêrô ra khỏi hồ Galilê, với nghề
đánh cá, ông được biết những biển khơi mênh mông hơn nhiều. Khi Phêrô bỏ lại
cha mẹ, vợ con, ông đứng đầu một cộng đoàn đông đảo là Hội Thánh.
Chắc Têrêxa Hài Đồng không ngờ mình trở
nên Thánh Sư.
Chắc Têrêxa Calcutta không ngờ đám táng
của mình sẽ có cả triệu người tham dự.
Theo Đức Giêsu, ta sẽ được lại cả những
điều đã mất. Cái được quan trọng nhất là được Đức Giêsu (x. Pl 3,8).
Gợi Ý Chia Sẻ
Bạn nghĩ gì về giá trị của tiền bạc,
của cải? Đâu là thái độ cần có trước những cạm bẫy của tiện nghi vật chất đang
mời mọc chúng ta?
Theo Chúa trong tư cách là một Kitô hữu
đòi hỏi ta phải từ bỏ nhiều. Bạn có thấy mình được lại điều gì không? Bạn có
khi nào được gấp trăm so với điều đã mất không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, giàu sang, danh vọng,
khoái lạc là những điều hấp dẫn chúng con. Chúng trói buộc chúng con và không
cho chúng con tự do ngước lên cao để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.
Xin giải phóng chúng con khỏi sự mê
hoặc của kho tàng dưới đất, nhờ cảm nghiệm được phần nào sự phong phú của kho
tàng trên trời.
Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi
bán tất cả những gì chúng con có, để mua được viên ngọc quý là Nước Trời.
Và ước gì chúng con không bao giờ quay
lưng trước những lời mời gọi của Chúa, không bao giờ ngoảnh mặt để tránh cái
nhìn yêu thương Chúa dành cho từng người trong chúng con. Amen.
2. Của cải.
Hãy bán tất cả những gì anh có mà cho
người nghèo anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi hãy đến mà theo Ta.
Đó là đòi hỏi Chúa Giêsu đã đưa ra cho
chàng thanh niên giàu có, sau khi biết chàng đã tuân giữ những giới luật từ
thuở còn nhỏ. Đó là điều anh ta phải làm để được sống đời đời. Và đó cũng là
điều anh ta còn thiếu. Đòi hỏi của Chúa Giêsu là một đòi hỏi đặc biệt dành
riêng cho cá nhân anh ta. Đòi hỏi ấy đụng tới con người anh ta thật sâu, bởi vì
nó đụng tới sự an toàn, chỗ dựa và lòng gắn bó của anh ta đối với của cải.
Dĩ nhiên Chúa Giêsu không đòi hỏi mọi
người phải bán tất cả của cải để rồi tay trắng mà bước theo Ngài. Ladarô, bạn
thân của Ngài vẫn sống cuộc đời bình thường bên hai bà chị là Martha và Maria.
Giakêu đã tự nguyện cho người nghèo phân nửa tài sản, chứ không do đòi hỏi của
Chúa Giêsu. Vậy hẳn Ngài phải có lý do khi đưa ra một đòi hỏi quyết liệt như
thế đối với chàng thanh niên. Ngài thấy anh có nhiều mặt tốt, nhưng Ngài cũng
thấy anh bị trói buộc, bị cản trở, bị mất tự do bởi một điều, đó là sản nghiệp
của anh. Ngài thấy rõ kho tàng dưới đất thực sự là một mối nguy hiểm cho anh,
khiến anh có thể vuột mất kho tàng trên trời. Tình trạng hiện nay của anh chưa
có gì đáng ngại, nhưng đam mê cứ lớn thêm mãi với thời gian.
Đối với trường hợp của anh, Ngài nhận
thấy con đường tốt hơn hết để anh được sống đời đời, đó là bán tất cả, làm phúc
cho người nghèo, rồi bước theo Ngài. Đề nghị của Chúa Giêsu giúp anh chắp cánh
bay cao, không còn bị sợi dây nào ràng buộc. Tuy nhiên anh vẫn còn tự do để đáp
lại lời mời gọi đó. Anh có sẵn sàng trả giá để chiếm được kho báu là sự sống
đời đời hay không?
Trước lời đề nghị của Chúa Giêsu, anh
đã buồn sầu cúi mặt và bỏ đi. Phải chăng sự buồn sầu của anh bắt nguồn từ việc
anh thấy mình không đủ quảng đại và liều lĩnh để đáp lại một lời mời gọi tốt
đẹp như vậy. Một mặt anh bị hấp dẫn bởi lời đề nghị của Chúa Giêsu mà anh biết
đó là con đường tốt nhất để đạt đến ước mơ của anh. Mặt khác anh lại quá gắn bó
với của cải trần gian đến nỗi không thể rời bỏ chúng dễ dàng. Có lẽ lòng yêu
mến sự sống đời đời nơi anh chưa đủ mạnh để anh dám hy sinh điều cần phải hy
sinh. Anh đã chọn điều anh yêu hơn, nhưng chọn lựa đó đưa anh vào nỗi ray rứt
buồn phiền. Không phải anh sở hữu của cải, nhưng của cải đã sở hữu anh. Anh không
có được niềm vui của Giakêu, niềm vui của người bắt đầu được siêu thoát với
tiền của. Anh cũng chẳng có được niềm vui của người thương gia đi tìm ngọc quý.
Bởi vì Nước Trời đáng cho chúng ta hy sinh tất cả.
Nếu Chúa Giêsu gặp tôi hôm nay. Nếu tôi
hỏi Ngài về con đường dẫn tới sự sống đời đời, chắc hẳn câu trả lời của Ngài
cũng khiến tôi chới với, bởi vì ai cũng giàu có về một mặt nào đó: Uy tín,
tiếng tăm, quyền lực, kiêu căng, sức khoẻ, chức tước, bè bạn và ngay cả lòng
đạo đức. Ai cũng muốn cậy dựa vào sự giàu có của mình và xây dựng đời mình trên
đó. Thế nhưng Thiên Chúa chỉ muốn chúng ta cậy dựa vào một mình Ngài. Sống
trước nhan Ngài như một người nghèo và chờ đợi tất cả từ tay Ngài. Vì Nước Trời
thuộc về những ai có tinh thần nghèo khó.
3. Không thể vào Nước Trời ư? – Yvon
Daigneault.
Giới thiệu.
Sau khi nghe đọc Tin Mừng Chúa Nhật hôm
nay, nhiều vấn nạn có thể nổi lên. Ta không thể đọc lời Chúa Giêsu mà không đặt
câu hỏi hoặc không bị Lời Chúa chất vấn. Thí dụ, tại sao sau khi loan báo Nước
Trời sắp đến và mời gọi mọi người đón nhận như là Tin Mừng tuyệt vời nhất, Lời
Chúa lại giới hạn con số những người vào nước đó khi nhấn mạnh đến việc khó mà
vào được và đến con số ít ỏi những người có thể vào? Tại sao lại mời gọi làm
một điều mà rất ít người trong chúng ta có thể làm được? Khi người ta kiếm được
một việc làm khó kiếm, một mái nhà và những nguồn thu nhập cho gia đình mình,
thì không thể có vấn đề từ bỏ mọi sự và bắt những kẻ chúng ta thương yêu phải
nghèo xơ nghèo xác để đi tìm kiếm Nước Trời...
Câu hỏi thứ nhất.
Phải làm gì để vào Nước Trời, nghĩa là
sở hữu những của cải mà Chúa Giêsu đến loan báo nhân danh Chúa Cha? Chúa Giêsu
trả lời hết sức khách quan: Giữ các giới răn. Câu trả lời của Ngài không bảo ta
phải tuân theo các luật lệ tế tự hoặc những điều đặc biệt về tôn giáo, nhưng là
tuân theo những ý muốn của Chúa về con người, những nguyên tắc công bằng, sự
thật và lòng trung tín, là nên tảng cho cuộc sống con người. Khi biết rõ chúng
ta, Thiên Chúa cũng biết rằng không phải tự nhiên mà ta sống được như vậy. Vì
thế Ngài luôn nhắc nhở và xem đó là điều kiện tiên quyết để đạt được những
thiện hảo của Nước Trời.
Chúa Giêsu không dạy một con đường
khác. Tuy nhiên Ngài đề nghị một cách thức mới mẻ để tôn trọng những giới răn
này, khi Ngài mời gọi chúng ta đi theo Ngài. Giữ những giới răn này cách chân
thành, liên tục và kính cẩn vẫn chưa đủ. Còn phải sống như chính Chúa Giêsu đã
sống và đã dạy chúng ta sống: Với tấm lòng hiếu thảo, một sự trung thành tràn
đầy tình yêu để muốn tôn vinh Chúa Cha bằng tất cả cuộc đời mình.
Câu hỏi thứ hai.
Vậy, tại sao đòi phải bán hết tài sản,
một điều không thể làm được đối với đa số các môn đệ?
Ta hãy hiểu rằng vấn đề không phải là
tính của cải mình có bằng tiền bạc rồi đem cống hiến vào các việc từ thiện,
nhưng còn ám chỉ những gì được tượng trưng bởi những của cải này. Lớn hoặc nhỏ,
những của cải này gợi lên sự thành công, an ninh, sự kính trọng của những người
chung quanh mình, quyền bính, sự tự do. Dù ta có ý thức hay không, của cải bao
giờ cũng có thể tạo nên nơi ta một thái độ tinh thần nào đó, chủ yếu là sự kiêu
hãnh về cuộc sống của mình và sự tự phụ cá nhân. Của cải tạo cho chúng ta cảm
giác phấn khởi vì không còn cần đến ai nữa.
Chính thái độ tinh thần này cản trở ta
vào Nước Trời, một sự cản trở hầu như không thể thắng vượt được, một thứ ngõ
cụt không còn lối vào Nước Trời nữa. Nước Trời là một ân huệ, không thể mua
được, không mặc cả được. Để nhận được nó, phải siêu thoát mọi cản trở. Đây là
trung tâm giáo huấn của Chúa Giêsu. Nước Trời là sự thiện hảo. Ta không thể yêu
chuộng gì hơn nó được. Và ta không thể cùng một lúc vừa đón nhận Nước Trời vừa
sở hữu mọi thứ của cải vật chất xâm chiếm lòng chúng ta và cản trở chúng ta sở
hữu thụ hưởng những điều tốt đẹp mà Thiên Chúa hứa. Ta không thể vừa tạo cho
mình một vương quốc riêng lại vừa đồng thời nhắm tới vương quốc và Chúa Cha đã
hứa.
Ta hãy lưu ý là có nhiều cách trở nên
giàu có và điều này sẽ làm ta phân tâm và không còn tha thiết với vương quốc
của Thiên Chúa nữa. Mỗi người có những cách làm giầu riêng. Mỗi người có những
của dự trữ, những của cải và những chứng khoán, chúng như những thứ hành trang
cồng kềnh khiến ta không thể tự dó đón nhận những gì Thiên Chúa ban nữa. Chính
những của cải đó là những thứ ta phải dứt bỏ. Và cách tốt nhất để dứt bỏ bao
giờ cũng là chia sẻ với những ai không có gì.
Kết luận.
Tin Mừng bao giờ cũng hợp thời. Để đón
nhận của cải lớn hơn tất cả mọi thứ của cải, tức là sự sống mà Chúa Kitô ban,
Tin Mừng mời gọi chúng ta tự giải phóng khỏi tất cả những gì chúng ta gắn bó,
vì chúng ngăn cản chúng ta vào Nước Trời. Và chúng ta không thể làm điều đó
ngay bây giờ hay sao?
4. Lướt thắng nghịch cảnh – Charles E.
Miller.
(Trích trong 'Mở Ra Những Kho Tàng')
Nhiều năm trước ở tiểu bang California
phải đối đầu với một quyết định quan trọng. Trong việc khuếch trương đường cao
tốc 101 thành một đường xa lộ tốc hành về Los Angeles xuyên qua Ventura County,
những người hoạch định dự án đã phải đối đầu với dãy núi chắn ngang trên con
đường của họ. Một quyết định phải được thực hiện, hoặc là tiếp tục con đường xa
lộ đi thẳng lên phía bắc vòng theo sườn để lên trên đỉnh núi. Và một quyết định
khác là đi thẳng phía trước, đặt mìn phá một con đường xuyên qua thung lũng
Conejo và tiếp tục con đường xa lộ trên con đường thẳng. Kế hoạch thứ hai đã
được chọn, đó là một chọn lựa đúng.
Chúa Giêsu mời gọi người đàn ông giàu
có trong Phúc Âm làm một chọn lựa. Chúa Giêsu đã yêu cầu anh ta bán tất cả
những gì mình có mà bố thí cho người nghèo khó và đi theo Người. Người giàu có
đã làm một quyết định sai. Ông ta đã quá dính bén đến của cải khiến ông ta
không thể từ bỏ. Của cải của ông ta thì giống như một dãy núi, tách riêng ông
ta với Chúa Giêsu. Ông ta thấy chướng ngại đó quá lớn và không thể vượt qua.
Chúng ta cũng không biết điều gì xảy ra cho ông ta. Có thể dần dần ông ta tìm
thấy một con đường đi vòng để theo Chúa Giêsu nhưng để trở thành môn đệ, ông đã
bỏ lỡ cơ hội đầu tiên.
Một số người nam và người nữ qua lịch
sử của Giáo Hội đã đáp trả lại lời mời gọi của Chúa Giêsu theo cách trên đây.
Họ đã thật sự từ bỏ tất cả mọi của cải, vật chất để bước theo một đời sống ẩn
tu hay tu sĩ hoặc là những nữ tu. Hầu hết mọi người chúng ta thì không nồng
nhiệt cho lắm theo gương của họ, sự thật là Giáo Hội và xã hội sẽ không hiện
hữu nếu tất cả mọi người chúng ta đều làm như thế. Không phải mọi người trong
Giáo Hội đều có cùng một ơn gọi hoặc cùng một lời kêu gọi như nhau, và chúng ta
không thể đơn giản giảm nhẹ lời mời gọi của Chúa Giêsu như là không liên quan
hoặc là một điều không thể.
Thật là thích hợp để kết luận rằng Chúa
Giêsu không xem của cải như là một chướng ngại, Chúa Giêsu đã nói với người đàn
ông giàu có bỏ của cải, bởi vì của cải của ông ta đã là một vấn đề, một mối bận
tâm và là sự hấp dẫn đối với ông. Chúa Giêsu qua Phúc Âm đã nói với chúng ta về
những gì trong cuộc sống đã ngăn cản chúng ta thành người môn đệ tốt hơn hoặc
là để cho những thành phần nên tốt hơn hoặc trở nên những phần tử tận tụy của
Giáo Hội. Khi chúng ta xem xét những lời của Chúa Giêsu một cách nghiêm chỉnh,
chúng ta thấy rằng những lời đó sắc như dao hai lưỡi. Nó xuyên qua cuộc sống
của chúng ta, cắt ngang những hấp dẫn, tội lỗi, những thất bại, và những chướng
ngại của chúng ta để chấp nhận ân sủng làm môn đệ.
Chúng ta phải làm gì? Đó là câu hỏi mà
mỗi người chúng ta phải trả lời. Có lẽ chướng ngại là sự ích kỷ hoặc chán nản
trong đời sống hôn nhân, chúng luôn muốn cho con đường của chúng ta bị phá vỡ
khi chúng ta không tiếp tục. Nó có thể là khuynh hướng ngồi lê đôi mách, tìm sự
sung sướng trong khi hạ những người khác xuống hoặc lan truyền những câu chuyện
khủng khiếp về họ. Chúng ta có thể thuộc típ người coi thường những kẻ không
nhà, khinh bỉ những kẻ lãnh trợ cấp và cảm thấy oán ghét đối với dân nhập cư.
Chúng ta phải tìm kiếm trong lương tâm của chúng ta. Không phải là tuyệt diệu
sao khi Chúa Giêsu đã đứng trước chúng ta, cho chúng ta một câu trả lời? Có thể
là lời của Người sẽ làm đau giống như con dao hai lưỡi, có thể chúng ta sẽ quay
đi giống như người đàn ông giàu có. Trong Thánh Lễ này ân sủng Thiên Chúa thì ở
với chúng ta, câu chuyện trong Phúc Âm giúp chúng ta sẵn sàng chấp nhận thách
đố này. Ngày hôm nay con đường cao tốc 101 được như thế vì đã quyết định đúng
khi băng qua bình nguyên Conejo vào trong những gì được biết như là thung lũng
Pleasant Valley. Khi có thể làm một quyết định đúng, chúng ta đã vượt qua
chướng ngại để trở nên môn đệ, chúng ta sẽ tìm thấy điều đó trong cuộc sống của
chúng ta, không phải luôn luôn dễ dàng, để sống trong thung lũng Pleasant
Valley tình yêu của Đức Kitô dành cho chúng ta.
5. Ai là kẻ 'giàu có'? – Achille
Degeest.
(Trích trong 'Lương Thực Ngày Chúa
Nhật').
Thánh Marcô thuật về Chúa Giêsu trong
một hoàn cảnh đáng nhớ trong cuộc đời làm sứ giả Nước của Cha Người. Chúa vừa
lấy một đứa trẻ làm gương cho thái độ con người phải có trước mặt Thiên Chúa. Lời
giảng dạy và lòng tốt lành của Chúa chắc hẳn đã cảm kích một thính giả. Người
này chạy theo để gặp Chúa lúc đó vừa lên đường y hỏi Chúa: phải làm gì để có
được sự sống thật, sự sống bên Thiên Chúa. Ta đã biết cuộc đối thoại như thế
nào, kết thúc ra sao. Con người được đặt trước một sự chọn lựa, hoặc bằng lòng
với nếp sống tuân giữ đúng Lề luật hoặc gắn bó theo Chúa Giêsu. Ta nhớ lại rằng
nếu Chúa không ý thức rõ rệt Người là Con Thiên Chúa thì đã chẳng bao giờ Người
đề nghị một sự lựa chọn như vậy, vì lẽ chỉ Thiên Chúa mới có quyền đòi hỏi con
người gắn bó theo Thiên Chúa. Toàn thể đoạn Phúc âm của thánh Marcô cho phép ta
nhận xét như thế, bởi lẽ Chúa Giêsu được thánh chép sử kể lại Người là một Thày
khác hẳn một Thày khác hẳn một thày Rabbi thường.
Sự thoái thác rút lui của 'cậu con nhà
giàu', làm cho Chúa phán dạy những lời nghiêm trọng về nguy cơ do sự giàu có
đem đến cho con người. Đã có nhiều sự khai thác theo nhiều lối về đoạn Phúc âm
này. Chúng ta chỉ giữ lại điểm suy niệm:
1) Chúa không lên án của cải vật chất
vì cớ chúng biểu lộ sự giàu có. Chúa cảnh giác về của cải vật chất dễ khiến cho
con người thành nô lệ tiền bạc. Ở đây, là vấn đề tự do để tâm hồn sẵn sàng đáp
ứng Thiên Chúa.
Bằng tấm gương đời mình, Chúa cho thấy
Người không có mặc cảm khi sử dụng của cải vật chất. Của cải là tốt vì do Chúa
Cha tạo nên. Nhưng Chúa Giêsu không lụy vào của cải. Ngoại trừ những đoạn thuật
lại thuở thơ ấu của Chúa, người ta không bao giờ thấy Chúa lựa chon sự nghèo
túng. Là công nhân, Chúa làm việc để hằng ngày được dùng đủ. Rồi tới thời kỳ
làm sứ giả loan Tin mừng, nay đây mai đó, Chúa đã chấp nhận để cho người khác
lo cho Chúa đầy đủ. Trong cả hai trường hợp, Chúa không chịu một ràng buộc nào
do của cải thế gian.
Một ngạn ngữ, ngay ở thời Chúa đã thuộc
loại rất cổ xưa, nói rằng một sự an lạc tối thiểu cần thiết cho việc thực thi
nhân đức. Chúa không đứng ra làm lý thuyất gia cho sự thật hiên nhiên đó. Cách
cụ thể, Chúa sống với một sự an lạc tối thiểu, ở cái mức mà tâm hồn Chúa được
tự do để phụng thờ và phục vụ, để tận hiến cho Chúa Cha và cho nhân loại.
Cho nên Chúa cảnh giác đừng để cho của
cải vật chất nô lệ hóa, hoặc là của cải đang sở hữu, hoặc là thứ của cải người
ta mong ước được sở hữu. Sự giàu có trở thành xấu từ lúc, hoặc trong thực tế,
hoặc trong mơ ước, nó vật chất hóa tâm trí, lý tưởng, ước vọng, nghĩa là từ lúc
sự giàu có lấy mất đi tự do của trái tim.
2) Theo quan điểm này, những kẻ giàu có
không nhất thiết là những kẻ như ta tưởng. Những kẻ bị Chúa tuyên bố là để có
nguy cơ bị trục xuất khỏi Nước Trời, chính là những kẻ tôn thờ ngẫu tượng giàu
có vật chất, nó khiến cho họ xa cách Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng từng có những
người bạn vào bậc giàu có trong xã hội và nếu họ cư xử bất công, thì ân sủng
thân hữu và mãnh liệt của Chúa đã làm cho họ trở lại. Trong Chúa, người ta
không đấu tranh gây hấn chống nhà giàu. Chúa vượt lên rất cao khỏi những hố sâu
xã hội. Chúa không đấu tranh chống một tình trạng xã hội hầu đưa người nghèo từ
giai đoạn nghèo tiến lên giai đoạn giầu. Sự lầm than xã hội chỉ là một diện của
sự lầm than mênh mông của nhân loại và ở tầm cỡ đó, Chúa không suy tính, Chúa
đến với tất cả mọi người nghèo. Trước lối nhìn của Chúa, nguy cơ có thật của sự
giàu có chính là quyền lực của chúng khiến người ta xa lánh Thiên Chúa. Sự bi
đát của thanh niên giàu có là ở chỗ anh ta xa Chúa chỉ vì còn quyến luyến tài
sản của mình. Ở đây, hay ở đàng kia, chúng ta có chăng một 'tư sản' nào cần bỏ
lại để theo sát Chúa hơn?
6. Khôn ngoan – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.
Câu chuyện chàng thanh niên giàu có tốt
lành có một khởi đầu tốt đẹp. Đẹp cho đến nỗi Chúa nhìn và đem lòng yêu thương
anh. Nhưng lại có một kết thúc đáng buồn. Anh thanh niên bỏ đi buồn bã vì không
thể theo Chúa. Chúa Giêsu cũng buồn vì anh gắn bó với tiền bạc hơn yêu mến
Chúa.
Câu chuyện người thanh niên có thể là
câu chuyện của mỗi người. Cũng như chàng thanh niên, bình thường ta giữ đạo rất
dễ dàng. Sáng đi lễ, chiều đọc kinh, không làm điều gì gian ác, không bất công
tham lam của người khác. Nhưng khi gặp mâu thuẫn giữa cuộc sống với việc đạo,
phải chọn lựa giữa Thiên Chúa và những giá trị trần gian, nhiều khi ta nao núng
và rất nhiều người đã vì những giá trị trần gian mà bỏ Chúa. Có những người khi
còn nghèo túng thì giữ đạo rất tốt. Nhưng khi đứng trước những cám dỗ của tiền
của thì vì ham mê tiền của mà sống gian dối, đánh mất lương tâm Công giáo. Có
những người khi còn nhỏ thì rất ngoan ngoãn đạo đức, nhưng khi đến tuổi trưởng
thành thì vì thú vui mà bỏ quên việc đạo. Nhưng nhất là có những người vốn con
nhà đạo gốc rất sốt sắng, nhưng khi gặp cám dỗ về chức quyền thì vì một chút
danh vọng, đành bỏ Chúa, bỏ đạo.
Theo suy nghĩ của người đời, những ai
tìm được tiền của, đạt được danh vọng, nay lên chức mai lên quyền, là những
người tài khéo khôn ngoan. Nhưng đó chỉ là khôn ngoan nhất thời kiểu trần gian.
Vì cuộc sống trần gian có hạn. Con người ai cũng phải chết. Chết rồi có ai mang
theo được của cải, danh vọng, chức quyền vào thế giới bên kia đâu. Thế mà cuộc
sống sau cái chết mới là quan trọng, vì là cuộc sống vĩnh cửu không bao giờ
phai tàn.
Chúa muốn ta đừng gắn bó với của cải
nhưng phải gắn bó với Chúa, không phải vì Chúa muốn con cái phải khổ sở, hèn
hạ. Nhưng vì Chúa muốn cho ta chọn con đường khôn ngoan, để đạt tới hạnh phúc
đích thực, vĩnh cửu.
Ta đi đạo để chọn Chúa. Vì chọn Chúa ta
phải từ bỏ tất cả những gì ngăn cản ta đến với Chúa. Những cản trở có thể là
tiền bạc, danh vọng, chức quyền. Những cản trở cũng có thể là một người mà ta
gắn bó, một nơi mà ta không thể dứt bỏ. Những cản trở đó cũng có thể là một
lòng tự ái, một sự ghen ghét, bất mãn.
Nếu ta biết bỏ tất cả những gì cản trở
để đến với Chúa ta sẽ đạt được chính Chúa. Được Chúa là được tất cả. Vì Chúa là
hạnh phúc viên mãn. Được Chúa rồi ta sẽ không còn khao khát gì khác nữa.
Vì thế khi thánh Phêrô hỏi Chúa: Chúng
con đã bỏ mọi sự mà theo Chúa, chúng con sẽ được gì. Chúa đã trả lời: ai bỏ mọi
sự mà theo Chúa, sẽ được gấp trăm và được sự sống vĩnh cửu.
Người khôn ngoan thì phải biết nhìn xa
trông rộng. Biết bỏ những mối lợi trước mắt để tìm những giá trị vĩnh cửu.
Như thế yêu mến Chúa là chìa khóa của
sự khôn ngoan. Chọn Chúa là chọn giá trị tuyệt đối, vĩnh cửu không gì có thể so
sánh được.
Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến Chúa
trên hết mọi sự. Vì Chúa chính là hạnh phúc của con. Amen.
7. Lựa chọn hai kho tàng.
(Trích trong 'Niềm Vui Chia Sẻ')
Một bác nông dân người Anh có dịp nghe
John Wesley giảng thuyết. John Wesley là một nhà giảng thuyết nổi tiếng: hôm ấy
ông giảng về việc sử dụng tiền của. Wesley bắt đầu bài giảng bằng tư tưởng;
Phải ra công tích luỹ tối đa, phải dùng hết khả năng tìm cách làm giàu. Bác
nông dân gật gù bảo người bạn ngồi bên cạnh: Đúng lắm! Rồi wesley triển khai
điểm thứ hai: Phải tiết kiệm tối đa. Ông lên án thói phung phí tiêu xài quá
đáng. Bác nông dân xuýt xoa: bài giảng tuyệt vời! Cám ơn Chúa, mình vẫn sống
tiết kiệm. Cuối cùng, nhà giảng thuyết đi tới điểm thứ ba: Phải chia sẻ tối đa.
Hãy coi hoàn cảnh thiếu thốn của người chung quanh là thuộc trách nhiệm của
mình. Nghe đến đây, bác nông dân lắc đầu rồi bỏ nhà thờ đi ra...
Anh chị em thân mến
Chàng thanh niên giàu có trong Tin Mừng
hôm nay cũng thế. Anh muốn theo Chúa Giêsu để được sống đời đời. Nhưng khi nghe
Chúa Giêsu bảo: "Hãy về bán những gì anh có mà bố thí cho người nghèo, anh
sẽ được một kho tàng trên trời. Sau đó, hãy đến theo tôi". "Nghe lời
đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải".
Chúa Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng thương tiếc, vì anh ta vốn là một
người rất tốt. Anh đã tuân giữ các điều răn của Chúa từ thuở nhỏ. Chúa Giêsu tỏ
ra thán phục anh ta, nhưng đồng thời Ngài lại cho anh ta thấy rõ: Kitô Giáo
không phải chỉ là việc tuân giữ các điều răn một cách tiêu cực: "Không
giết người, không ngoại tình, không trộm cắp, không làm chứng gian, không làm
hại ai...". Kitô giáo mang tính tích cực hơn nhiều. Chúa Giêsu nói thẳng
với anh chàng giàu có: anh chưa bao giờ làm gì gây thiệt hại cho ai, vì anh có
nhiều tiền của, có vợ đẹp con khôn, đâu cần phải đi ăn trộm, ăn cướp hay ngoại
tình... nhưng anh đã làm gì để giúp đỡ ai chưa? Anh đã dùng tiền của để cho kẻ
đói ăn, cho kẻ khát uống, cho người trần trụi ăn mặc, cho kẻ vô gia cư có nơi
trú ngụ chưa? Chính khi nghe điều này, anh chàng giàu có kia đã nhận ra mình
vẫn còn nhiều khiếm khuyết biết bao. Vì vậy, Chúa Giêsu mới thách thức anh: Nếu
muốn theo Tôi, anh hãy thay đổi cách nhìn đi. Đừng chỉ nhắm đến sự tốt lành một
cách tiêu cực, chẳng hạn như không gây thiệt hại cho ai. Anh hãy nhắm sống tốt
lành một cách tích cực hơn, chẳng hạn như giúp đỡ những người nghèo đói. Cứ
thực hành điều này, anh sẽ tìm thấy hạnh phúc ngay trong cuộc sống này và cả
trong cuộc sống mai sau. Thách đố Chúa Giêsu đặt ra cho chàng thanh niên giàu
có có thể tóm lược như sau: Anh có dám chấp nhận mọi thiệt thòi để đạt được
cuộc sống vĩnh cửu mà anh mong muốn không? Anh có quan niệm bước theo Tôi là bị
thiệt thòi không? Nghĩa là anh có sẵn sàng hy sinh của cải của anh để được sống
đời đời không? Anh chàng giàu có trả lời: Thưa Thầy, tôi cũng muốn theo Thầy
lắm, nhưng tôi không muốn chấp nhận sự thiệt thòi kia! Thế là chàng thanh niên
giàu có đành từ chối lời mời gọi của Chúa Giêsu. Việc sử dụng của cải ngoài mục
đích lo riêng cho bản thân và gia đình xem ra là một hy sinh quá lớn đối với
anh.
Nhiều người trong chúng ta có lẽ cũng
giống như chàng thanh niên giàu có kia. Chúng ta biết rõ mình có thể trở thành
một Kitô hữu tốt hơn, nhưng chúng ta vẫn thiếu nhiệt tình để sống tích cực Tin
Mừng của Chúa. Chúng ta đã tuân giữ các điều răn, nhưng chúng ta vẫn chưa đủ
quảng đại đối với những người túng thiếu, trần trụi, đói khát. Vì việc đó đòi
hỏi chúng ta phải hy sinh, phải chấp nhận thiệt thòi, đau khổ, phải can đảm và
phải khôn ngoan sáng suốt để nhận ra rằng sự hy sinh đó là cần thiết để đem lại
bình an và niềm vui trong tâm hồn. Và để có thể hy sinh và chấp nhận những
thiệt thòi đau khổ đó, điều hết sức quan trọng là phải có một động lực mạnh để
thúc đẩy ta, và động lực đó chính là tình yêu: yêu Chúa và yêu người. Tình yêu
đó sẽ thúc đẩy chúng ta làm nhiều hơn những đòi hỏi tiêu cực của các điều răn:
không hại người, không gian dối, không trộm cắp... Một thanh niên yêu một thiếu
nữ sẽ không chỉ hài lòng với việc không làm hại nàng, không nói dối, không xúc
phạm đến nàng. Tình yêu khiến anh phải làm tích cực hơn như thế rất nhiều, vì
nếu không làm hơn được như thế, chắc chắn đó không phải là tình yêu. Cũng vậy,
nếu chúng ta chỉ hài lòng với những điều răn Chúa dạy, chúng ta chỉ là người
"quen biết" Chúa chứ chưa phải là người yêu Chúa. Nếu chúng ta không
muốn làm điều gì tích cực hơn nữa, chính là vì chúng ta thiếu tình yêu. Chúng
ta chưa yêu Chúa và chưa yêu tha nhân.
Rất nhiều người trong chúng ta có tâm
trạng hài lòng vì đã được biết Chúa, tự mãn vì mình đã giữ các điều răn của
Ngài từ thuở nhỏ, giống như chàng thanh niên giàu có trong Tin Mừng. Đó là một
điều rất đáng khen, vì Thiên Chúa cũng rất hài lòng vì chúng ta đã sống được
như vậy. Chính Chúa Giêsu cũng đã nhìn chàng thanh niên đó một cách thiện cảm
và đem lòng yêu thương. Nhưng qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu còn kêu mời
chúng ta đi xa hơn một bước nữa, đó là sẵn sàng hy sinh nhiều hơn nữa cho Chúa
và cho anh em. Đang khi bên cạnh chúng ta còn biết bao nhiêu người nghèo khổ
túng thiếu, cần đến sự giúp đỡ cụ thể của chúng ta. Chúng ta không thể nói mình
yêu Chúa mà lại làm ngơ hay phớt lờ những nhu cầu của họ. Tình yêu thúc đẩy
chúng ta phải làm một cái gì cụ thể để thoả mãn phần nào những nhu cầu thiết
yếu của anh em. Và chúng ta cũng cần có con mắt nhận xét và tâm hồn nhạy bén để
nhận ra những nhu cầu ấy nơi những người sống gần mình nhất.
Chàng thanh niên nghe Chúa Giêsu nói
phải phân phát tiền của cho người nghèo, anh đã buồn rầu bỏ đi, vì anh quá
thiết tha với tiền của. Từ đó Chúa Giêsu đưa ra nhận định: "Người giàu có
khó vào được Nước Trời". "Khó vào" chứ không phải là không vào
được, nếu không biết chia sẻ, giúp đỡ những người túng thiếu, nghèo đói, để
được một kho tàng trên trời. Dĩ nhiên, tiền của cần cho cuộc sống, nhưng tiền
của dễ làm cho con người trở nên mù quáng và ích kỷ. "Tiền của là đầy tớ
tốt nhưng là ông chủ xấu". Tiền của là đầy tớ đắc lực cho mọi người, nhưng
khi chúng ta coi tiền của như một ông chủ, thì lúc đó nó sẽ trở thành ông vua
thống trị với những luật lệ ác nghiệt của nó, nó hành hạ, sai khiến chúng ta
như tên nô lệ. Vì thế, Chúa đã nói: "Không ai vừa làm tôi Thiên Chúa lại
vừa làm tôi tiền của" (Lc 16,13). Phải lựa chọn một.
Chúa Giêsu đã tỏ ra tuyệt đối trong đòi
hỏi của Ngài: "Ai trong anh em không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì
không thể làm môn đệ Thầy" (Lc 14,33). Từ bỏ của cải không nhất thiết là
từ bỏ quyền sở hữu. Từ bỏ đây, đối với đa số Kitô hữu là có của mà lòng không
tham lam, không nô lệ cho tiền của. Có của mà biết dùng của để mua sắm kho tàng
không bao giờ hư nát trên trời. Có của mà biết quan tâm đến nhu cầu của người
khác, coi hoàn cảnh thiếu thốn của người chung quanh là thộc trách nhiệm của
mình. Đó phải là cách sống của tất cả những ai muốn thực sự là môn đệ của Chúa
Kitô.
8. Giàu: tốt hay xấu - Gm. Arthur
Tonne.
Ngày 6 tháng 6 năm 1976. Một người giàu
nhất xưa nay đã qua đời, thọ 83 tuổi; ông I. Paul Getty để lại từ khoảng 2 đến
7 tỷ đôla. Sau năm lần ly dị, mấy năm trước đây ông tuyên bố với một người
phỏng vấn: "Tôi mong dùng tất cả gia tài của tôi để xây dựng một hôn nhân
hạnh phúc. Tôi sợ thất bại. Tôi sợ không thể tạo được hạnh phúc hôn nhân".
Có lần một phóng viên làm ông phải thú nhận là ông đã không đạt được hạnh phúc
gia đình. Suy nghĩ vài giây, ông trả lời: "Vâng, thật đáng buồn". Một
lần khác ông xác nhận: Tiền bạc không thể mua hạnh phúc, hơn nữa ông còn tin
rằng tiền bạc có bà con với bất hạnh nữa.
Chúng ta nhớ đến nhà tỷ phú này khi đọc
câu chuyện người thanh niên giàu có trong bài Tin Mừng hôm nay. Người thanh
niên giàu có này sống đời luân lý tốt đẹp, nhưng anh cảm thấy thiếu một cái gì.
Chúa Giêsu đã nói cho anh điều anh thiếu: "Bạn về và bán những gì bạn có.
Giúp người nghèo và bạn sẽ có một kho tàng ở trên trời. Rồi đến theo tôi".
Chàng thanh niên bỏ đi, vì anh giàu có.
Điều này áp dụng cho bạn và tôi làm
sao? Trước khi trả lời, chúng ta lưu ý hai sự kiện: Một là từng người một trong
chúng ta, không kể giàu nghèo. Chúng ta phải làm điều Chúa Giêsu đòi hỏi người
thanh niên: Chúng ta sẽ phải từ bỏ mọi sự chúng ta có – Cái chết.
Hai là có hàng ngàn người nam, nữ trong
suốt dòng lịch sử và trong thời đại chúng ta, tình nguyện bỏ mọi sự để làm linh
mục, làm tu sĩ nam nữ. Cả một số giáo dân cũng làm như vậy để phụng sự Chúa tự
do hơn.
Chúa Giêsu có truyền tất cả chúng ta
phải bỏ mọi sự mình có không? Người có mong tất cả chúng ta là tu sĩ không?
Không, hoàn toàn không. Nhưng người
truyền chúng ta biết dùng của cải một cách nào đó để đừng quên Cha trên trời,
Đấng ban cho chúng ta những cái đó.
Có phải tiện tặn là là sai? Phải chung
góp vốn là sai? Để dành tiền phòng khi già yếu? Hay xây dựng gia đình là sai?
Không, hoàn toàn không. Cái sai của sự giàu có là tôn thờ, phục vụ và tin tưởng
vào đồng đôla vạn năng thay thế cho Thiên Chúa quyền phép.
Khi các Tông đồ hỏi Chúa: "Vậy ai
có thể được cứu rỗi?". Chúa tuyên bố: "Với người ta thì không thể
được, nhưng không phải với Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa làm được mọi sự".
Như thế người giàu cũng có thể được cứu
rỗi, nhưng phải nhờ ơn Chúa giúp. Tôi đề nghị chúng ta hãy xin Cha trên trời
giúp chúng ta sử dụng của cải đúng cách, giúp chúng ta ý thức rằng của cải vật
chất cũng là hồng ân và ơn huệ của Chúa. Tôi xin được phép giới thiệu một lời
kinh:
"Lạy Cha trên trời, con cảm tạ Cha
vì gia đình con đầy đủ và và quá đầy đủ nữa, xin giúp con biết sử dụng của cải
theo ý Chúa. Xin giúp con biết chia sẻ cho những người ít hơn hoặc không có.
Xin giúp con tiếp tay trong công cuộc của Chúa trên trần gian. Xin giúp con tin
tưởng nơi Chúa chứ không phải nơi tiền bạc. Xin giúp con sống rộng rãi với mọi
người như Chúa hằng quảng đại với con".
Bạn đọc kinh này khi dâng bánh và rượu
trong Thánh Lễ.
Xin Chúa chúc lành bạn.
9. Suy niệm của Noel Quesson.
NGƯỜI GIÀU KHÓ VÀO NƯỚC THIÊN CHÚA.
Một bác nông dân người Anh có dịp nghe
Dôn Oets-lây (John Wesley) giảng. Oets-lây là một nhà giảng thuyết nổi tiếng.
Hôm đó ông giảng về việc sử dụng tiền của.
Oets-lây bắt đầu bài giảng bằng tư
tưởng, phải ra công tích lũy tối đa, phải dùng hết khả năng tìm cách làm giàu.
Bác nông dân gật gù bảo người bạn ngồi bên cạnh: Hay lắm.
Rồi Oets-lây khai triển điểm thứ hai:
phải tiết kiệm tối đa. Ông lên án thói phung phí xa xỉ, tiêu xài quá đáng. Bác
nông dân suýt xoa: Bài giảng tuyệt vời. Cám ơn Chúa, mình vẫn sống tiết kiệm.
Cuối cùng nhà giảng thuyết đi tới điểm
thứ ba: Hãy chia sẻ tối đa. Phải quan niệm sự thiếu thốn của người chung quanh
là thuộc trách nhiệm của mình. Nghe thế, bác nông dân lắc đầu bỏ nhà thờ đi ra.
Người thanh niên mà Tin Mừng kể hôm
nay, anh cũng có nhiều đức tính, vốn thi hành luật Chúa từ nhỏ, nhưng khi nói
tới tiền của, phải hy sinh tiền của cho người khác thì anh không chấp nhận.
Khi người thanh niên hỏi Chúa: Phải làm
gì để được sống đời đời. Chúa đã kể ra những việc phải làm. Chúa chỉ kể ra
những việc mà Chúa cho là quan trọng: đừng giết người, đừng ngoại tình, đừng
trộm cướp, đừng làm chứng gian, đừng lừa dối ai, hãy thảo kính cha mẹ. Nói tới
điều quan trọng nhất trong việc giữ đạo, ta thường nghĩ tới việc thờ phượng, đọc
kinh xem lễ. Nhưng trong cách diễn tả của Chúa Giêsu thì quan trọng nhất là mến
Chúa và yêu người, mà hai điều đó giống nhau (Mt 22,39). Hay đúng hơn phải bắt
đầu bằng biểu lộ bác ái yêu thương với anh chị em đồng loại, vì chính đó là dấu
hiệu của lòng mến Chúa.
Nhưng những việc luật đòi giữ đây mới
là phần tiêu cực, và Chúa Giêsu chưa cho thế là đủ. Chúa đòi ta chia sẻ với anh
chị em những gì mà ta quý trọng nhất, những gì tha thiết nhất với chúng ta.
Chúa bảo ta yêu thương nhau như Chúa đã yêu, và chúng ta biết Chúa yêu thương
cho tới cùng, cho tới hiến cả mạng sống mình. Chúng ta phải sẵn sàng chia sẻ
những gì thiết thực nhất, trong đó có tiền của và có thể coi tiền của là một
thước đo mức độ bác ái của ta với anh em.
Anh thanh niên nghe Chúa nói phải phân
phát tiền của cho người nghèo, anh đã buồn rầu bỏ đi, có nghĩa là anh quá thiết
tha với tiền của. Và từ đó Chúa đưa ra nhận định: Người giàu khó vào Nước Thiên
Chúa. Tiền của cần cho cuộc sống. Tiền của là đầy tớ đắc lực cho mọi người.
Những ý niệm này rất đúng, và Chúa Giêsu hoàn toàn tán đồng. Nhưng khi chúng ta
coi tiền như một ông chủ, thì lúc đó nó sẽ là một ông chủ khắc nghiệt, nó hành
hạ, sai khiến chúng ta. Và khi đó Chúa không chấp nhận, "Không ai vừa làm
tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền của" (Lc 16,13), phải chọn một.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết quan
tâm đến những người anh chị em nghèo khó, sẵn sàng chia sẻ cho họ những gì
chúng con có, để chúng con xứng đáng làm môn đệ Chúa và được thừa hưởng sự sống
muôn đời.
10. Giàu.
Ngày 06.6.1976, một nhà tỷ phú, giàu có
và hạnh phúc nhất trên thế giới, là ông Paul Getty, đã qua đời, để lại một gia
sản từ hai đến bốn tỷ đôla. Sau năm lần ly dị, ông đã tuyên bố với một phóng
viên báo chí: Tôi mong dùng tất cả gia tài của tôi để xây dựng một cuộc hôn
nhân hạnh phúc. Tôi sợ thất bại. Tôi lo không thể tạo được hạnh phúc hôn nhân.
Có lần ông cũng đã thú nhận rằng mình đã không đạt được hạnh phúc trong gia
đình. Và ông đã kết luận: Tiền bạc không thể mua được hạnh phúc. Trái lại, nó
còn có họ hàng bà con với những nỗi bất hạnh nữa.
Từ hình ảnh nhà tỷ phú Paul Getty chúng
ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Chàng thanh niên giàu có, sống một đời
sống luân lý tốt đẹp, nhưng chàng vẫn cảm thấy còn thiếu vắng một cái gì đó. Và
rồi Chúa Giêsu đã tỏ lộ cho chàng biết điều thiếu vắng ấy: Ngươi hãy về, bán
tất cả những gì ngươi có, làm phúc bố thí cho kẻ nghèo túng, rồi hãy đến và
theo Ta. Thế nhưng chàng thanh niên đã buồn bã, cúi mặt bỏ đi vì chàng là một
người giàu có.
Câu chuyện về chàng thanh niên giàu có
sẽ đem lại cho chúng ta những kết luận cụ thể nào? Trước khi trả lời, chúng ta
hãy lưu ý tới hai sự kiện:
Sự kiện thứ nhất, đó là từng người một,
bất luận giàu sang hay nghèo túng, chúng ta đều phải thực hiện điều Chúa Giêsu
đòi hỏi, là từ bỏ mọi sự chúng ta đang có, nhất là khi chúng ta phải đối đầu
với cái chết. Thực vậy, khi thần chết đã lên tiếng gọi, thì chúng ta không thể
mang theo bất cứ tiền bạc của cải vật chất nào sang thế giới bên kia, vì đó là
một chuyến đi, một cuộc hành trình cô đơn nhất.
Sự kiện thứ hai, đó là trong dòng thời
gian, có biết bao nhiêu người, nam cũng như nữ, đã từ bỏ mọi sự để dâng hiến
trọn vẹn cho Chúa, sống trong những dòng tu cũng như sống giữa lòng cuộc đời,
để nhờ đó được tự do phụng sự Chúa.
Vậy Chúa Giêsu có truyền cho tất cả
chúng ta phải từ bỏ mọi sự mình có và Ngài có mong cho tất cả chúng ta đều trở
thành linh mục, tu sĩ hay không? Dĩ nhiên là không, hoàn toàn không. Thế nhưng
Ngài truyền cho chúng ta phải biết dùng của cải một cách nào đó, để sinh ích
cho linh hồn chúng ta, cũng như đừng bao giờ quên rằng Thiên Chúa, là Cha trên
trời, Đấng đã ban cho chúng ta tất cả những cái đó.
Ngoài ra sự tiết kiệm, góp vốn, phòng
xa có phải là điều sai quấy hay không? Dĩ nhiên là không, hoàn toàn không. Cái
sai quấy của sự giàu có là tôn thờ tiền bạc, phục vụ tiền bạc, tin tưởng vào
tiền bạc như một đấng vạn năng thay cho Thiên Chúa.
Trước những khó khăn là như thế, các
tông đồ đã hỏi Chúa Giêsu: Vậy thì ai có thể được cứu rỗi? Chúa Giêsu đã tuyên
bố: Đối với người ta thì không thể được, nhưng không phải là đối với Thiên Chúa
vì Ngài làm được mọi sự. Như thế người giàu cũng có thể được cứu rỗi nhưng phải
cậy nhờ vào ơn Chúa giúp.
Bởi đó, hãy biết tìm kiếm tiền bạc một
cách công bằng và hãy biết xử dụng tiền bạc một cách chính đáng, vì của cải vật
chất cũng là một thứ hồng ân của Thiên Chúa. Cái khó là đừng để cõi lòng mình
quá quyến luyến, quá dính bén, quá đam mê chạy theo tiền bạc, để rồi bỏ quên
Chúa và bóc lột những người anh em của chúng ta.
11. Làm nhiều hơn.
Có một thanh niên làm nghề bán sách
rong. Ngày kia anh vào nhà một bác nông dân và giới thiệu:
- Thưa bác, cháu có bán một cuốn sách
chỉ cách canh tác sinh lợi gấp mười cách bác đang làm.
Bác nông dân yên lặng, bắn một điếu
thuốc lào rồi nói:
- Này anh bạn, chẳng cần sách của anh,
nhưng tôi cũng đã biết phải làm thế nào để canh tác sinh lợi gấp mười lần cách
thức hiện nay tôi đang làm.
Câu chuyện trên giúp chúng ta hiểu rõ
hơn đoạn Tin Mừng hôm nay. Thực vậy, bác nông dân biết cách canh tác tốt hơn
nhưng bác lại thiếu nhiệt tình để cố gắng làm điều ấy.
Cũng như chàng thanh niên giàu có, dư
sức làm nhiều hơn việc tuân giữ các giới luật, nhưng anh ta đã không đủ nhiệt
tình để thực hiện những yêu cầu của Chúa. Sau khi anh ta cho biết mình đã tuân
giữ các giới luật từ thuở nhỏ, Chúa Giêsu đã tỏ ra thán phục, nhưng đồng thời
Ngài lại cho anh ta thấy rõ: Kitô giáo không chỉ là việc tuân thủ các huấn lệnh
tiêu cực ấy như đừng trộm cắp, lừa đảo... nhưng phải mang tính cách tích cực
hơn nhiều. Và Ngài đã nói với anh ta:
- Con chưa hề gây thương tổn cho ai,
điều đó quả là đáng khen. Nhưng con đã làm gì để giúp đỡ người khác. Con đã
biết dùng của cải để cho kẻ đói được ăn, kẻ khát được uống và người trần trụi
được mặc?
Chính khi nghe những điều ấy, anh ta đã
nhận ra mình vẫn còn nhiều khuyết điểm.
Rồi Chúa đề nghị cùng anh:
- Nếu muốn theo Ta, con hãy thay đổi
cách nhìn. Đừng chỉ nhắm đến sự tốt lành một cách tiêu cực, nhưng phải nhắm
sống tốt lành một cách tích cực hơn, chẳng hạn như giúp đỡ người khác. Vì thế,
hãy bán mọi sản nghiệp, bố thí cho người khác, rồi hảy đến và theo Ta. Cứ thực
hành điều như vậy, thì con sẽ tìm thấy hạnh phúc đời này và đời sau.
Thế nhưng, anh ta đã không có đủ can
đảm để chấp nhận những thiệt thòi trên con đường bước theo Chúa, trên con đường
trở nên trọn lành. Và anh ta đã buồn sầu cúi mặt bỏ đi.
Nhiều người trong chúng ta cũng giống
như bác nông dân. Chúng ta biết rõ mình có thể trở thành một Kitô hữu tốt lành
gấp mười lần tình trạng hiện nay, nhưng chúng ta lại thiếu nhiệt tình để làm
điều ấy.
Cũng giống như chàng thanh niên giàu
có. Chúng ta đã tuân giữ những giới luật của Chúa, nhưng lại chưa tỏ ra rộng
lượng đối với những kẻ túng thiếu, khổ đau và bất hạnh. Bởi vì công việc đó đòi
hỏi chúng ta phải hy sinh, phải chấp nhận những thiệt thòi. Và cốt lõi của vấn
đề, đó là vì chúng ta còn thiếu tình yêu đối với Chúa và đối với anh em.
Đúng thế, tình yêu sẽ thúc đẩy chúng ta
làm nhiều hơn những đòi hỏi tiêu cực của lề luật: không gian dối, không trộm
cắp... Một thanh niên yêu một thiếu nữ, sẽ không chỉ hài lòng với việc không
làm hại cô ấy, không xúc phạm đến cô ấy, nhưng hơn thế nữa, tình yêu thúc đẩy
anh phải làm cho cô ấy được hài lòng, được vui mừng, được hạnh phúc. Bằng không
thì đó chưa phải là tình yêu đích thực.
Cũng vậy, nếu chúng ta chỉ hài lòng với
những giới luật Chúa dạy, thì chúng ta mới chỉ là những người "quen
biết" với Chúa, chứ chưa phải là người yêu Chúa.
Nếu chúng ta không muốn làm những điều
tích cực hơn nữa, thì đó chính là vì chúng ta thiếu tình yêu. Chúng ta chưa
thực sự yêu Chúa cũng như chưa thương người.
12. Tiền của.
Một bác nông dân người Anh đang ngồi
nghe một nhà giảng thuyết tài ba tên là Dôn Oét-lây (John Wesley) rao giảng Tin
Mừng. Hôm đó, nhà giảng thuyết đề cập đến vấn đề tiền bạc của cải, đầu tiên,
nhà giảng thuyết nói đến việc "phải ra công tích lũy tiền bạc tối đa, phải
dùng hết khả năng để kiếm tiền và làm giàu". Bác nông dân gật đầu và nói
nhỏ vào tai ông bạn thân đang ngồi bên cạnh: "Thật là một tư tưởng
hay". Rồi nhà giảng thuyết khai triển điểm thứ hai của bài giảng:
"Phải tiết kiệm tối đa, ông lên án những thói ăn chơi xa xỉ, quăng tiền
qua cửa sổ". Bác nông dân một lần nữa lại xuýt xoa: "Bài giảng thật
là tuyệt vời, cám ơn Chúa, từ trước đến giờ ta vẫn luôn làm như ta vẫn luôn làm
như lời ông ta nói là tiết kiệm". Cuối cùng, nhà giảng thuyết đề cập đến
điểm then chốt của bài giảng: "Hãy đem những của cải đã thu gom được chia
sẻ cho những Đức Kitô hiện thân nơi những người nghèo chung quanh, vì của cải
vật chất là của Thiên Chúa ban chung cho nhân loại, chúng ta chỉ là những người
quản lý. Do đó, chúng ta phải tích cực làm việc bác ái xã hội, phải dạy người
nghèo một nghề để tự kiếm sống, phải tạo ra nhiều việc làm, đừng để xảy ra tình
trạng người thì ăn sung mặc sướng, trong khi nhiều người khác lại bị đói khát,
bất hạnh...". Nghe vậy, bác nông dân sụ nét mặt lại, lắc đầu tỏ ý không
bằng lòng và bỏ ra về, ông vừa đi vừa lẩm bẩm: "Cái lão thầy tu này giảng
không thực tế chút nào, tại sao lại phải đem tiền của kiếm được do công lao mồ
hôi nước mắt của mình mà chia sẻ cho kẻ khác?"
Bác nông dân trên đây đã phản ứng trước
đòi hỏi của Tin Mừng về vấn đề tiền của rất giống với chàng thanh niên trong
bài Tin Mừng hôm nay. Anh thành tâm thiện chí xin Chúa Giêsu một lời khuyên để
đạt sự sống đời đời. Có lẽ ít có thanh niên nào lại bận tâm đến cuộc sống đời
đời như anh thanh niên này, vì thường họ chỉ nghĩ sống cho hiện tại. Chúa âu
yếm nhìn anh và nói: "Hãy giữ các điều răn", đó là phương thế rất phổ
thông và truyền thống trong đạo Do Thái. Có thể nói anh rất hài lòng về câu trả
lời của Chúa, và hãnh diện vì mình đã tuân giữ các điều răn ngay từ nhỏ. Vậy
tại sao anh còn tìm kiếm thêm? vì đó chỉ là mức tối thiểu đối với đa số người
Do Thái. Vì thế, Chúa Giêsu mời gọi anh bước thêm bước nữa: "Bán của cải
và chia sẻ cho người nghèo để theo Ngài". Nhưng anh đã chùn bước.
Giả như Chúa Giêsu bảo anh giữ thêm một
điều răn nữa, dù có khắt khe hơn, chắc anh sẵn sàng nhận ngay, nhưng Chúa lại
mời gọi anh chia sẻ cái anh có cho người nghèo, nên anh khó chấp nhận và buồn
rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải. Quả thật, giữ thì không khó khăn lắm, nhưng
cho thì không dễ dàng gì. Người ta có thể dễ dàng theo Chúa khi họ không phải
từ bỏ của cải mình có, nhưng khi đòi phải từ bỏ những đồng tiền thì họ không
dứt được, vì "đồng tiền liền khúc ruột". Con đường giữ đạo và con
đường hoàn hảo còn cách xa nhau lắm, vì con đường hoàn hảo là con đường từ bỏ,
kể cả mạng sống mình. Chúng ta thấy Chúa Giêsu đã đảo lộn mọi dự đoán của chàng
thanh niên ấy: vấn đề không phải là làm việc gì hay giữ điều gì, nhưng là từ bỏ
những cái thân thiết, gần gũi, quý giá để thong dong và dễ dàng đón nhận Chúa
là nguồn gốc và đích điểm của cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu.
Chúng ta thấy bác nông dân trong câu
chuyện trên và anh thanh niên trong bài Tin Mừng, cả hai đều có thiện chí muốn
nên tốt hơn nên đã đi tìm và hỏi ý kiến Chúa Giêsu, cả hai đều hài lòng về
những điều mình đã làm là tuân giữ các điều răn. Nhưng khi Chúa đòi phải từ bỏ
bằng việc bán gia sản mà chia sẻ cho những người nghèo khổ, thì cả hai đều sụ
nét mặt và buồn rầu thất vọng bỏ đi.
Liền sau đó Chúa đề cập đến vấn đề tiền
của và sự giàu có: Đối với phần đông chúng ta, Chúa không đòi chúng ta phải từ
bỏ tiền của, như mọi người khác, chúng ta cũng cần có tiền của, và có tiền của
mới sống được " chúng ta cần có một căn nhà để tránh "ăn nhờ ở
đậu" gây phiền hà cho người khác. Chúng ta cần có đủ áo mặc, có đủ cơm ăn
để khỏi nên gánh nặng cho tha nhân, không đánh mất phẩm giá của mình và tránh
lệ thuộc vào người khác. Ngoài ra, nhiều người đã biết khởi điểm của mọi sự là
"thủ tục đầu tiên", không có "thủ tục đầu tiên" này thì mọi
việc khó mà êm xuôi. Hơn nữa, không có tiền có lẽ khó mà lấy vợ có chồng, một
tiệc cưới cũng tốn kém từ vài triệu đến vài chục triệu. Ở Hàn Quốc, họ nói như
sau: "muốn cưới vợ thì chàng phải có ba chìa khóa: chìa khóa xe hơi, chìa
khóa nhà, và chìa khóa hòm tiền ở ngân hàng". Nhưng đối với chúng ta, cần
phải có chìa khóa thứ tư nữa, ba chìa khóa kia mở cửa "tiền", còn
chìa khóa thứ tư mở cửa "lòng".
Bởi lẽ: tiền có thể mua nhà cửa nhưng
không mua được tổ ấm, tiền có thể mua giường nệm nhưng không mua được giấc ngủ
yên, tiền có thể mua lạc thú nhưng không mua được hạnh phúc, tiền có thể mua
thế gian nhưng không mua được thiên đàng. Cửa lòng mà chìa khóa thứ tư mở ra,
đó là lòng bác ái, lòng yêu thương của chúng ta.
Tóm lại, điều Chúa Giêsu muốn dạy chúng
ta phải sống là đừng coi tiền bạc là ông chủ, nhưng hãy coi nó là đầy tớ. Tiền
của là ông chủ xấu, nhưng lại là một đầy tớ tốt. Một khi trở thành phương tiện,
thì tiền của sẽ là một trợ thủ đắc lực, giúp chúng ta làm được nhiều việc lớn
lao và chu toàn được sứ mệnh làm vinh danh Chúa và góp phần cứu rỗi anh em.
13. Dâng hiến.
"Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ
hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa".
Lời tuyên bố trên đây của Chúa Giêsu có
bao gồm và đụng chạm đến những người đang sống trong các khu vực sang trọng
giàu có ở Manila như Forbes Park, Corinthian Gardens và Ayala Alabang hay
không? Lời tuyên bố này có đánh động những người đang làm chủ các tập đoàn
thương mại khổng lồ ở Philippies hay không?
Trên thực tế, tiền bạc hay sự giàu có
không phải là một sự dữ tất yếu. Ngay cả Chúa Giêsu cũng đã hưởng những thực
phẩm, những bữa tiệc và cả nơi nghỉ ngơi do những người bạn giàu có của Ngài
cung cấp. Cũng vậy, với tiền bạc, bạn có thể làm được nhiều việc tốt, chẳng hạn
như lo việc ăn học cho con cái, mua những vật nhu yếu phẩm, làm những việc từ
thiện bác ái. Nhưng với tiền bạc, bạn cũng có thể làm nhiều điều ác. Với tiền
bạc, bạn có thể hối lộ, mua các lá phiếu trong các cuộc bầu cử, thuê những tên
khủng bố và làm những hành động bất lương khác. Sống như vậy, con người thay vì
làm chủ tiền bạc thì lại trở nên nô lệ cho nó.
Mặt khác, nghèo khó hay sống trong
nghèo khó cũng không phải đương nhiên là một nhân đức. Lấy ví dụ: một người
nghèo luôn miệng nguyền rủa thân phận nghèo khổ của mình. Anh ta bị ám ảnh muốn
trở nên giàu có như người hàng xóm. Nhưng thực tế anh vẫn phải sống trong cảnh
nghèo. Và một người nghèo khác, mặc dù nghèo khổ nhưng anh vẫn hướng về Thiên
Chúa, chuyên chăm cầu nguyện và tham gia vào các hoạt động truyền giáo của Giáo
hội, giúp đỡ những người khác. Lúc đó, nghèo khó trở thành một nhân đức Kitô
giáo, vì giúp ta sống gắn bó với Thiên Chúa và không dính bén với của cải thế
gian.
Chúa Giêsu muốn mỗi người chúng ta sống
một cuộc đời dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa đúng với căn tính của mình là
Kitô hữu. Vì thế, nếu bạn là một người đã kết hôn, hãy là một người chồng hay
một người vợ tốt, đừng tìm kiếm một người khác xinh đẹp hơn người phối ngẫu của
mình. Nếu bạn là một người làm công, hãy làm việc chu đáo. Nếu bạn là một người
chủ, hãy ở công bằng. Cuối cùng, chúng ta hãy suy nghĩ về bốn hướng dẫn quan
trọng sau đây:
- Hãy nhớ rằng vào một thời điểm nào
đó, bạn sẽ phải ra đi.
- Hãy tìm niềm vui trong sự trao ban
hơn là khi thu góp.
- Sống gắn bó với thánh giá hơn là dính
chặt vào đồng pêsô.
- Hãy nhớ rằng tiền bạc thì mau qua, và
bạn chỉ có một bảo đảm chắc chắn ở nơi Thiên Chúa.
Lạy Chúa, xin giúp con nhớ rằng không
dính bén với của cải thế gian là một phương thế giúp sống gắn bó với Chúa.
14. Chúa nhìn chàng.
Qua đoạn Tin mừng hôm nay, có một chi
tiết đáng cho chúng ta ghi nhận, đó là sau khi chàng thanh niên đến hỏi Chúa
Giêsu:
- Thưa Thày nhân lành, tôi phải làm gì
để được sống đời đời?
Chúa Giêsu trả lời:
- Hẳn anh đã biết các điều răn: chờ
giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ ám hại ai,
hãy thảo kính cha mẹ.
Anh ta nói:
- Thưa Thày, tất cả những điều đó, tôi
đã tuân giữ từ thuở nhỏ.
Bấy giờ, Chúa Giêsu đưa mắt nhìn anh ta
và đem lòng yêu mến.
Phải, Chúa Giêsu nhìn chàng và yêu mến
chàng. Thế nhưng, đâu là điều đã làm cho Chúa Giêsu yêu mến?
Theo tôi nghĩ, điều làm cho Chúa Giêsu
yêu mến không phải là sự trọn lành tương đối mà chàng đã đạt được ngay từ hồi
còn nhỏ, đó là tuân giữ các điều răn của Ngài, nhưng là sự khắc khoải muốn được
vươn lên, là sự cầu tiến của một tâm hồn thấy mình chưa được trọn lành, và chưa
được thỏa mãn, là sự băn khoăn trước nhu cầu cần phải làm thêm hơn nữa.
Đó là một tâm hồn cởi mở tự nhận thấy,
ít nữa là một cách lu mờ, rằng mình chưa làm gì hết, bao lâu còn có sự phải
làm, mình chưa cho gì cả bao lâu còn có sự phải cho.
Thế nhưng, sau khi nghe Chúa Giêsu chỉ
cho biết điều kiện cần thiết, điều kiện ắt có và đủ để được trở nên trọn lành,
đó là hãy trở về, bán hết mọi của cải, làm phúc bố thí cho người nghèo khổ, rồi
hãy đến mà theo Chúa...thì chàng đã hoang mang suy nghĩ, vì đó là một điều kiện
cân não đòi buộc chàng phải từ bỏ. Sau đó, chàng đã lưỡng lự phân vân, để rồi
cuối cùng chàng đã cúi mặt bỏ đi. Chàng đã không dám liều, không dám đánh đổi
tất cả để được theo Chúa, chàng đã không có can đảm để hiến dâng trọn vẹn cho
Chúa.
Phúc âm còn ghi rõ: sở dĩ như vậy vì
chàng có nhiều sản nghiệp. Tiền bạc đã cản ngăn bước chân của chàng. Chúng ta
cảm thấy tiếc xót cho chàng và cho Giáo hội vì đã mất đi một vị tông đồ nhiều
thiện chí.
Rất có thể trong một giờ cầu nguyện sốt
sắng nào đó, chúng ta cũng đã cảm thấy khắc khoải như chàng thanh niên. Chúng
ta muốn thoát khỏi sự tầm thường, chúng ta muốn vươn lên, muốn ra khỏi tình
trạng nọa lực thiêng liêng và chúng ta đã thành thực thưa lên cùng Chúa:
- Lạy Chúa, xin dạy cho con đường nẻo
trọn lành.
Rất có thể trong thinh lặng, Chúa Giêsu
cũng đã nhìn chúng ta và đem lòng yêu mến chúng ta. Và rồi sau cùng, Ngài cũng
đưa ra một điều kiện cân não. Dĩ nhiên, Ngài không bảo chúng ta phải bán hết
mọi của cải, nhưng Ngài bảo chúng ta phải từ bỏ ý riêng để theo ý Ngài:
- Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình.
Ý riêng ấy có thể là một mơ ước, một
đam mê hão huyền. Ý riêng ấy có thể là cái chúng ta ưa thích nhưng không được
đẹp lòng Chúa...
Rất có thể chúng ta cũng đã phân vân và
lưỡng lự, chúng ta cũng đã hoang mang suy nghĩ và rồi cuối cùng chúng ta cũng
đã buồn sầu bỏ đi vì cõi lòng chúng ta đã quá quyến luyến với những thực tại
trần gian hay với những ước mơ hão huyền. Chính những cái đó đã cảm bước chân
chúng ta tiến đến cùng Chúa.
Vì vậy, muốn theo Chúa, muốn đáp trả
lời mời gọi của Ngài, chúng ta phải có can đảm, dám liều, dám đánh đổi tất cả
những gì mình đang có và yêu thích để dấn thân vào một cuộc phiêu lưu.
Theo Chúa là phải từ bỏ. Không phải chỉ
từ bỏ những của cải vật chất mà thôi, trái lại nhiều khi còn phải từ bỏ cả
những khắc khoải của con tim như lời Chúa đã phán dạy:
- Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình,vác
thập giá mình hằng ngày mà theo Ta.
Xin cho con biết quảng đại và trung
thành theo Chúa dù có gặp phải những gian nan thử thách trên bước đường tiến
đến cùng Chúa.
15. Chia sẻ- tiền của.
Có một người giàu có kia thường đến
xưng tội với thánh Philipphê Nêri. Ông có nhiều tiền của, có thiện chí, nhưng
ông vẫn cảm thấy mình không đạt được sự tiến bộ nào trên đường thiêng liêng. Từ
chán nản đến thất vọng, cuối cùng ông bỏ cuộc và không trở lại xưng tội với
thánh nhân nữa. Thấy ông đã lâu không đến xưng tội, thánh nhân tìm đến nhà ông
để gặp ông. Sau một hồi trò truyện, ngài nhìn lên cây thánh giá treo trên
tường, ngài cân nhắc độ cao của thánh giá rồi đề nghị với người đàn ông giàu
có: "Ông là người cao lớn, ông thử với coi tới thánh giá không". Ông
đứng dậy giơ cánh tay lên cố với nhưng không thể nào chạm tới Chúa Giêsu trên
thánh giá. Bấy giờ thánh Philipphê dùng hết sức đẩy cái hòm tiền của người giàu
đến bên cạnh ông và bảo ông hãy đứng lên trên cái hòm tiền để với tới cây thánh
giá. Ông làm theo ý thánh nhân và sờ được Chúa Giêsu trên thánh giá. Sau đó
ngài nói với ông: "Để có thể nắm lấy được Chúa Giêsu, để có thể tiến bộ
trên đường thiêng liêng, chúng ta cần phải đứng trên tiền bạc của cải".
Câu truyện trên phần nào tương tựa như
câu truyện trong bài Tin Mừng. Một thanh niên giàu có đến hỏi Chúa Giêsu: làm
sao vừa có được đời sống giàu sang sung sướng lại vừa được sống đời đời? Chúa
thông cảm, nhìn anh một cách trìu mến, vì thấy anh là một thanh niên mà đã biết
nghĩ đến đời sống trọn lành, đã biết lo lắng cho cuộc đời mai sau.
Sở dĩ anh hỏi Chúa Giêsu như vậy là vì
anh muốn làm môn đệ của Chúa. Anh nghĩ anh đã giữ được sáu điều răn của Chúa
rồi: không giết người, không ngoại tình, không trộm cắp, không làm chứng gian,
không lường gạt ai, không bất hiếu với cha mẹ. Vậy anh còn thiếu điều gì nữa?
Chúa bảo anh hãy về bán hết của cải, không phải để cất giấu dành dụm, nhưng là
đem chia sẻ cho người nghèo. Đối với Chúa, đó là điều kiện cho riêng anh để
được trọn lành và làm môn đệ của Ngài. Nhưng điều kiện này anh lại không chấp
nhận được vì anh có nhiều của cải, nên anh buồn bã rút lui. Đại bàng muốn cất
cánh lên mây xanh, nhưng đã bị xiềng xích. Của cải vật chất đã xiềng anh ta lại
mất rồi. Rõ ràng giữa Chúa và của cải, giữa đời sống trọn lành và tiền của, anh
đã chọn của cải, chọn tiền của.
Qua trường hợp anh thanh niên này, Chúa
Giêsu nghĩ tới tất cả những người bị xiềng xích như anh, nên Chúa nói với các
môn đệ: "Các con ơi, vào được nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc
đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Thiên Chúa". Chúa nói
đến nỗi khó chung của mọi người để vào nước Thiên Chúa rồi mới nói đến nỗi khó
đặc biệt của người giàu. Đây chỉ là một kiểu nói sánh ví thôi, để chỉ một việc
rất khó thực hiện, như những câu nói của Việt Nam: "Lấy đá vá trời",
"Tát bể đông cũng cạn". Đây là kiểu nói nhấn mạnh để in sâu vào tâm
trí người nghe và làm nổi bật nỗi khó của người giàu. Tại sao có nhiều của cải,
có nhiều tiền của lại khó vào nước trời?
Ai ai cũng công nhận rằng: của cải cần
thiết cho đời sống con người. Của cải sẽ đem lại cho con người nhiều hạnh phúc
hơn. Cả tây phương lẫn đông phương đều có chung quan niệm: bao tử đi trước, đầu
óc theo sau; có thực mới vực được đạo; hoặc cần phải ăn trước đã, kế đến mới
suy tư, triết lý. Tiền của cần thiết như thế nên Chúa Giêsu không bao giờ lên
án tiền của hay người có tiền của, tức là người giàu. Ngài biết con người cần
phải có tiền của để sống xứng đáng với cuộc sống của mình. Ngài biết "đồng
tiền liền với khúc ruột", cần có tiền để sống, để giữ đạo nữa. Sự túng
thiếu, bần cùng là một sự dữ, loài người không ai muốn, thì Chúa cũng không
muốn con cái Ngài phải vướng mắc vàoTuy nhiên, tiền bạc của cải vẫn luôn là con
dao hai lưỡi: được sử dụng như một phương tiện, tiền của sẽ giúp cho chúng ta
sống đúng với phẩm giá của mình hơn. Trái lại, khi chúng ta chạy theo tiền của
như cứu cánh cho cuộc đời mà quên đi những giá trị khác trong cuộc sống, nhất
là những giá trị thiêng liêng, tinh thần thì nó sẽ làm cho chúng ta bị phá sản
về vật chất cũng như tinh thần. Sự ham mê tiền của dễ làm cho người ta ra đen bạc,
khó vào nước trời.
Nói rõ hơn, tiền của tự nó tốt và giúp
ích cho con người. Nó chỉ xấu và có hại khi đem sử dụng vào những mục tiêu xấu.
Đúng vậy, vì tiền của, người ta có thể đánh mất lý tưởng cuộc đời. Vì tiền của,
người ta có thể chà đạp phẩm giá của mình cũng như của người khác.. Vì tiền
của, người ta có thể chối bỏ niềm tin. Vì tiền của, người ta có thể phớt lờ
luôn cả tiếng lương tâm. Vì tiền của, người ta có thể làm những điều bất chính,
tội lỗi... Đó là nguy cơ mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào. Và người nào ham mê
tiền của đến quên cả Chúa và quên cả anh em, thì đó chính là thứ lạc đà đứng
trước lỗ kim, đó chính là người khó vào nước trời.
Anh thanh niên giàu có đã từ chối lời
mời gọi của Chúa Giêsu. Anh không dám từ bỏ mọi sự để đi theo làm môn đệ Chúa.
Tin Mừng lại cho biết: các tông đồ chính là những người đã đáp lại lời mời gọi
ấy. Ông Phêrô đã nói lên điều đó như một niềm hãnh diện: "Còn chúng con đã
bỏ mọi sự mà theo Thầy". Theo bản văn Tin Mừng Marcô thì ông Phêrô chỉ nêu
lên thực trạng đó thôi, ông không đòi hỏi gì và cũng không xin xỏ gì. Nhưng
trong Tin Mừng Matthêu thì lại cho biết ý của ông Phêrô muốn hỏi: "Vậy
chúng con sẽ được cái gì?". Vì thế, nhân dịp này Chúa đã giải đáp một thắc
mắc ngấm ngầm trong lòng các môn đệ. Việc các ông tranh giành ngôi thứ với nhau
chứng tỏ các ông vẫn băn khoăn về chuyện các ông sẽ được cái gì. Không riêng gì
ông Phêrô hay các môn đệ mà người tín hữu nào cũng có lúc thắc mắc như thế:
chúng ta đi đạo, chúng ta tin Chúa, chúng ta sẽ được cái gì?
Chúa Giêsu bảo chúng ta: hãy dùng tiền
của và cư xử cách nào để đem lại ích lợi cho cuộc sống hôm nay và đồng thời
cũng đầu tư cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau nữa. Một phương thế Chúa dạy là: hãy
chia sẻ. Chúa không đòi chúng ta phải từ bỏ tất cả để theo Chúa, nhưng Chúa đòi
chúng ta phải biết chia sẻ: chúng ta chia sẻ cho người khác một, Chúa sẽ trả
cho chúng ta gấp nhiều lần hơn. Bởi vì một đồng tiền kinh doanh là một đồng
tiền sinh lợi. Một ánh lửa chia sẻ là một ánh lửa tỏa lan. Một vết dầu thả lỏng
là một vết dầu loang. Đôi môi có hé mở mới thu nhận được nhiều nụ cười. Bàn tay
có mở rộng trao ban, tâm hồn mới tràn ngập vui sướng. Về mặt thiêng liêng cũng
thế, chúng ta cho đi chúng ta sẽ được nhận lại. Chúng ta càng chia sẻ, chúng ta
càng nhận lãnh trở lại nhiều hơn, nhất là Chúa sẽ trả lại nhiều hơn cho chúng
ta ở đời sau.
16. Lòng nhân từ.
Tại sao người thanh niên đã đến với Đức
Giêsu? Một người thanh niên ở vào địa vị của anh ta hẳn sẽ hạnh phúc nhiều hơn
với số phận của mình. Điều gì vẫn còn làm anh phải thắc mắc? Điều gì còn làm
cho tâm hồn anh chưa chai cứng vì của cải? Chúng ta không biết. Nhưng chúng ta
biết chắc người ta có thể trở thành tự mãn đến nỗi họ không còn nghe được sự
kêu gọi của một đời sống tốt đẹp hơn. Anh ta hỏi: "Tôi phải làm gì để được
sự sống đời đời?" Là một thanh niên, anh khao khát hành động. Anh đã nhận
thức rằng chỉ có công việc mới đáng kể. Điều này hẳn đã làm Đức Giêsu yêu mến
anh ta. Vì khi chúng ta càng già, chúng ta càng kiên định trong công việc.
Và anh đã có một nền tảng vững chắc
dưới chân mình. Anh ta có thể nói: "Tôi đã giữ mọi giới răn. Tôi không
giết người. Tôi không ăn cắp của ai, hoặc lừa đảo ai. Tôi không phạm tội ngoại
tình. Tôi không làm mất danh dự của cha mẹ tôi".
Ở đây không chút nghi ngờ, anh có một
cuộc sống tốt và là một thanh niên đáng kính – một người con mà bất cứ cha mẹ
nào cũng phải tự hào. Một kiểu mẫu chăng? Phải – đến một mức độ nào đó. Khi
chúng ta xem xét yêu sách của anh ta về sự cao cả, người ta ít bị thuyết phục
hơn. Vậy anh ta không giết người, không trộm cắp, không phạm tội ngoại tình...
hay tóm gọn lại, điều anh thanh niên nói là: "Tôi không làm cho ai bị tổn
hại" – đây là một tiêu chuẩn phủ định. Và thật ngạc nhiên khi có nhiều
người nghĩ rằng đó là tiêu chuẩn cao nhất của đức hạnh.
Chắc chắn chúng ta đang đối diện với
một thanh niên tốt, một người có cuốn vở bài học sạch sẽ. Nhưng có phải là một
người nổi bật không? Có phải là một thanh niên đã trải qua gian khổ và đã chứng
tỏ được chính mình? Không, anh ta chỉ đơn giản là không bị thử thách. Nhưng sắp
được thử thách. Đức Giêsu nhìn anh với lòng yêu mến. Người đã nhìn thấy những
tiềm năng lớn trong anh. Rồi Người đề nghị với anh một quan điểm mới về nhân từ
– một quan điểm tích cực – chủ yếu không phải chỉ là tránh điều xấu mà là làm
điều tốt. Người nói: "Nếu anh muốn làm điều trọn hảo, anh hãy bán hết
những gì anh có mà cho người nghèo – rồi hãy đến theo tôi, và anh sẽ có được
một kho tàng trên trời".
Đức Giêsu muốn giải phóng người thanh
niên ấy khỏi lòng ham mê sở hữu và chỉ cho anh con đường chia sẻ thương xót.
Nhưng người thanh niên không vươn lên nổi. Vì thế, anh bỏ đi lòng buồn bã.
Tại sao anh ta buồn? Bởi vì thách đố mà
Đức Giêsu xuất phát từ anh ta đã tạo thành một quan điểm về sự cao cả thật lóe
sáng trong tâm hồn trẻ trung và quảng đại của anh. Tuy nhiên, cái giá đó quá
cao. Vì thế anh ta trở về với đời sống cũ và với những tiện nghi và an toàn cũ.
Chắc chắn anh ta sẽ còn tiếp tục mơ đến việc làm một điều gì thật sự đáng giá
với cuộc đời mình. Nhưng trong thời gian, giấc mơ ấy sẽ phai nhạt dần.Thật thú
vị khi Đức Giêsu để anh ta đi. Người ta từ bỏ của cải rất khó khăn, bởi vì điều
ấy có nghĩa là tước đoạt họ khỏi mọi tài sản mà họ phải dựa vào đó như thân
thế, sự an toàn và thụ hưởng đời sống. Nhưng đó chính là lý do tại sao các môn
đệ của Đức Giêsu phải từ bỏ của cải. Cốt lõi của đức tin Kitô giáo là đặt sự
tín thác của con người vào Thiên Chúa và trông cậy vào Thiên Chúa như là suối nguồn
duy nhất cho sự an toàn và hạnh phúc. Khi Đức Giêsu nói: "Hãy đi bán những
gì anh có..." Người không có ý nói rằng các môn đệ phải túng thiếu. Đời
sống của người nghèo, với khó khăn và đau khổ không được đưa ra như một lý
tưởng cho các môn đệ của Đức Kitô. Nhưng mặt khác ước muốn chiếm hữu và tích
lũy của cải cũng không được chấp nhận. Giống như người thanh niên, một đôi khi
chúng ta cũng mơ đến đời sống của một Kitô hữu chân chính. Chúng ta mơ – nhưng
có sẵn sàng hành động không? Chúng ta chỉ mơ ước những điều ấy mà không nỗ lực
thực hiện. Đối với những người nỗ lực thực hiện, phần thưởng sẽ to lớn ngay cả
trong đời này bằng những từ ngữ đầy ý nghĩa, tràn đầy và vui mừng – mặc dù phải
trải qua những nỗi gian nan và khó khăn. Ngay khi nói với người thanh niên, Đức
Giêsu không cho phép chúng ta bằng lòng với một lời giải đáp không đòi hỏi điều
tốt nhất trong chúng ta. Một người bạn chân thành là một người bạn buộc chúng
ta phải thực hiện giấc mơ đẹp nhất của tuổi thanh xuân. Người bạn ấy thách thức
và kéo căng chúng ta đến giới hạn của khả năng chúng ta và vượt qua nó, để sau
đó, chúng ta sẽ có những tiêu chuẩn mới qua đó tự phán đoán chính mình.
17. Quan trọng.
Người thanh niên hỏi Đức Giêsu:
"Thưa Thầy, tôi phải làm gì để thừa hưởng sự sống đời đời?" Rõ ràng
là anh ta đã hỏi một câu hỏi khác, nếu không hỏi Đức Giêsu thì cũng đã hỏi một
người khác. Câu hỏi đó là: Mục đích của đời này là gì? Câu trả lời là: để có
được sự sống đời đời.
Đấy là hai câu hỏi quan trọng nhất
trong cuộc đời. hầu hết chúng ta cũng đã hỏi như thế khi chúng ta còn trẻ. Có
lẽ chúng ta không còn hỏi những câu hỏi đó nữa? Hiện nay chúng ta đang ở trên
chuyến tàu hỏa của đời sống, được nó đưa về phía trước không thể lay chuyển
được, và dường như với một tốc độ ngày càng tăng dần, nhưng nơi mà con tàu
hướng về không còn là giải pháp mà chúng ta muốn biết.
Tại sao lại như thế? Có thể vì chúng ta
quá vướng bận với hành lý, hoặc với những trò chơi hay sự tiêu khiển đến nỗi
chúng ta không còn thời gian dành cho những vấn đề như thế? Hoặc có thể giống
như người thanh niên đã đến với Đức Giêsu, chúng ta thấy rằng đặt những câu hỏi
như thế quả là nguy hiểm.
Bầu khí chúng ta đang sống không khuyến
khích kiểu đặt câu hỏi và suy tư đó. Những vấn đề về tinh thần hiếm khi là chủ
đề trong các câu chuyện ở bàn ăn hoặc trong các câu chuyện thân mật giữa bạn
bè. Người ta chú trọng nhiều hơn đến việc làm, những vấn đề gia đình, và những
giải pháp chính trị và kinh tế trong ngày. Những cuộc tranh luận về các giá trị
đạo đức và niềm tin về tâm linh hiếm khi xảy ra. Thật vậy, những đề tài này dù
ít hay nhiều cũng là điều cấm kỵ.
Chúng ta là những con người thực tiễn.
Chúng ta muốn có những lời giải đáp mà không muốn có vấn đề. Những vấn đề đạo
đức và tinh thần là những giải pháp khó khăn. Một nhà phân tâm học người Mỹ đã
nói:
"Ở một tầm mức rộng lớn, đời sống
chúng ta được dùng để tránh đối đầu với chính mình. Hầu hết những hoạt động
hàng ngày của chúng ta làm cho điều đó được dễ dàng. Chúng làm chúng ta xao
lãng chính mình và việc suy tư. Chúng ta được trấn an bởi những sự tầm
thường".
Đức Giêsu đã trả lời người thanh niên:
"Anh hãy giữ các giới răn". Và người thanh niên nói: "Tôi đã giữ
các giới răn".
Đối với Đức Giêsu giữ các giới răn chỉ
là mức tối thiểu. Người biết rằng người thanh niên này có khả năng nhiều hơn.
Thật vậy, anh có khả năng đạt được điều cao cả. Vì thế Người nói với anh:
"Nếu anh muốn nên trọn lành, anh hãy đi bán những gì anh có mà cho người
nghèo rồi hãy đến theo tôi".
Người thanh niên đã đứng trên bờ vực
của một thế giới mới mẻ và lôi cuốn. Tuy nhiên, anh lập tức nhận ra rằng anh
không thể bước vào thế giới mới này mà không nói lời giã từ thế giới cũ của
anh. Anh ngần ngại. Anh phân vân. Anh nhìn về thế giới cũ ấy và bắt đầu cân
nhắc những gì anh đang bỏ lại phía sau. Thình lình anh đã nhận ra rằng anh
không thể làm được điều đó. Có quá nhiều điều trong thế giới cũ mà anh yêu
thích và thèm muốn, chính vì thế mà anh từ khước lời mời gọi của Đức Giêsu.
Một số người không muốn bỏ mất dù chỉ
một giá trị cũ của họ để có được một giá trị mới. Nếu chúng ta sợ mất đi những
lạc thú của thế giới cũ, chúng ta sẽ không bao giờ nếm hưởng những niềm vui của
thế giới mới.
Đức Giêsu đòi hỏi nỗ lực tối đa của
chúng ta khi Người đòi hỏi người thanh niên. Người không muốn chúng ta bằng
lòng với bất kỳ điều gì kém cỏi. Lời thách thức: "Nếu anh muốn nên trọn
hảo", cũng xuất phát từ chính chúng ta. Tuy nhiên, để đảm nhiệm thách thức
đó, chúng ta được kêu gọi phải hy sinh. Hy sinh điều gì còn tùy vào mỗi người
chúng ta. Chúng ta phải nhìn kỹ tâm hồn mình để biết chúng ta phải từ bỏ điều
gì để đáp lại lời kêu gọi ấy.
Sự hiện diện của chúng ta ở đây mỗi
Chúa nhật bắt chúng ta phải suy nghĩ về những câu hỏi cao cả ấy. Chúng ta được
nhắc nhở đời sống là một cuộc hành hương đến nước trời vĩnh cửu. Chúng ta nghe
Lời Chúa và đón tiếp Thánh Thể. Nhưng chúng ta phải nhớ lại rằng sự cứu chuộc
luôn luôn là sự thành tựu của Thiên Chúa. Người nào tin vào chính mình sẽ không
bao giờ được cứu. Người nào tin vào quyền năng cứu độ và tình yêu cứu thoát của
Thiên Chúa mới có thể bước vào ơn cứu độ một cách tự do.
18. Bước theo Chúa Giêsu - Lm Nguyễn
Hữu An.
Các bạn trẻ thân mến!
Tôi xin được chia sẻ một đôi suy niệm
của mình về người thanh niên trong trang Tin Mừng hôm nay.
- Đây là một người trẻ rất giàu có.
Tin Mừng không nói cho ta hay nguồn gốc
về tài sản của anh, nhưng qua cuộc sống đạo hạnh của mình, chứng tỏ rằng anh là
người dễ thành công trong cuộc sống và thực sự anh thành công trong cuộc sống
trần thế. Anh ta có nhiều của cải
- Anh cũng là một người trẻ Do Thái
công chính, ngay thẳng, không dối gian.
Bằng chứng qua việc anh tuân giữ các
giới răn của Chúa thật tốt ngay từ lúc còn bé và dĩ nhiên đến hôm nay "chớ
giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai,
hãy thờ cha kính mẹ". Thật là một người trẻ tuyệt vời trong đời sống niềm
tin và xã hội của người Do Thái. Chính Chúa Giêsu cũng nhìn anh với ánh mắt yêu
thương và trìu mến.
- Anh là người biết cầu tiến.
Sự cầu tiến ở đây không chỉ ở phương
diện thế trần mà còn thể hiện trong đời sống tâm linh của anh " Lạy Thầy
nhân lành! Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?". Sự
giàu có về vật chất, lòng đạo tinh tuyền của một người Do Thái, không làm cho
anh tự kiêu tự mãn như anh biệt phái trong câu chuyện "người thu thuế và
anh biệt phái lên đền thờ cầu nguyện", trái lại anh vẫn luôn nghe được
tiếng réo gọi trong tâm hồn anh về khát vọng sống đời đời. Anh khao khát và anh
kiếm tìm. Anh kiếm tìm và anh đã gặp Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống đời đời.
Thánh Luca ghi lại "khi ấy Đức Giêsu vừa lên đường, thì có một người chạy
đến, quỳ xuống trước mặt Người ". Đây là một cử chỉ mang tính phụng vụ, cử
chỉ của con người trước thần linh và như thế, người thanh niên này đã bước từ
Do Thái giáo sang Kitô giáo. Thật là một quyết định sáng suốt, can đảm và khôn
ngoan. Anh muốn được Đức Giêsu chỉ dạy như một vị Thầy.
- Nhưng tiếc thay! Anh không thể hoàn
tất khởi đầu thuận lợi ấy. Anh thiếu một điều cơ bản là " bỏ mọi sự để
thuộc về Đức Kitô"
Thật vậy! Trang Tin Mừng cho ta thấy
một khởi đầu thuận lợi nơi cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Chúa Giêsu và người
thanh niên. Ai trong chúng ta và có lẽ chính anh cũng nghĩ rằng anh đầy đủ điều
kiện để đón lấy sự sống đời đời mà không cần phải làm gì hơn nữa. Chính lúc ấy,
và lần đầu tiên anh phải đối diện với Lời là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.
Lời mà thư Do Thái đã diễn tả thật hay " Lời Thiên Chúa là lời hằng sống,
hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với
linh, cốt với tuỷ, lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người
..." (Dt 4,12-13). Lời đã hoá thành xác phàm và đang đứng trước mặt anh:
Đức Giêsu thành Nagiaret. Lời muốn anh đón tiếp Người để trao cho anh quyền làm
Con Thiên Chúa, đây là ân huệ tuyệt đỉnh nhất mà Thiên Chúa muốn ban cho con
người, đó cũng là sự sống đời đời mà anh khao khát kiếm tìm. Đón tiếp Ngài bằng
một sự khó nghèo, một sự từ bỏ "anh chỉ thiếu có một điều, là hãy về bán
hết những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời rồi
hãy đến theo tôi.".
Nghe lời trên anh sa sầm nét mặt và
buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều tiền của. Anh sáng của Lời Hằng Sống tưởng sẽ
xuyên thấu và đổi mới tâm hồn chàng trai trẻ bỗng khựng lại bởi bức tường của
tiền bạc đang bao phủ vây kín cuộc đời anh, níu chặt lấy anh không cho anh bước
theo Đức Giêsu. " tim anh phút chốc bừng nắng hạ, nhưng tiếc thay mặt trời
là lời chân lý không thể chói qua tim anh bởi anh đã khép tim mình lại trong
bóng tối của tham sân si".
Các bạn trẻ thân thương!
Qua câu chuyện của người thanh niên
trong Tin Mừng, tôi rút ra mấy xác tín cho người trẻ chúng mình:
+ Thiên Chúa mới chính là gia nghiệp và
là hạnh phúc đích thực cuộc đời của chúng ta chứ không phải tiền bạc, danh
vọng, địa vị hay bất cứ một thế lực nào đó trên trần gian này. Người trẻ trong
trang Tin Mừng là một minh chứng hùng hồn về nhận định "tiền không phải là
tất cả". Sự giàu sang không thể khoả lấp cơn đói khát nằm sâu trong tâm
hồn con người. Trái lại sự giàu có dễ trở biến thành rào cản ta lãnh nhận hạnh
phúc đích thực từ Thiên Chúa. Thánh Augustinô sau những tháng năm tìm kiếm sự
thoả mãn cơn đói khát trong tâm hồn mình bằng danh - lợi - thú trần gian, cuối
cùng Ngài mới nhận ra rằng " Lạy Chúa! Chúa dựng nên chúng con là để cho
Chúa, và vì thế tâm hồn chúng con khát khao cho đến khi nào được an nghỉ trong Ngài".
Sống và được no thoả trong Thiên Chúa thánh nhân đã nức nở " ôi con yêu
Chúa quá muộn màng, Ngài đã chiến thắng, con mù loà Ngài đã chiếu sáng, Ngài
toả ngát hương và làm con say mến, Ngài là dịu êm và lòng con thao thức ngày
đêm". Mong thay, bạn sẽ không phải hối hận thốt lên như Augustiô "ôi!
Con yêu Chúa quá muộn màng". Nhưng nếu đã thấy đã muộn thì mau quay về với
Ngài. Ngài vẫn chờ bạn như người cha ngóng chờ đứa con hoang đàng trở về. Bạn
ơi! Hãy cho Chúa một cơ hội, một niềm vui, một lễ hội trên thiên đàng qua sự
trở về của bạn. Bạn ơi với Chúa " một ngày ví tựa ngàn năm". Bởi đó,
đối với Chúa không bao giờ là trễ cả.
+ Chúa Giêsu là vị Thầy duy nhất hướng
dẫn ta đến cùng Thiên Chúa. Chính Ngài đã khẳng định " không ai đến được
với Cha mà không qua Thầy". Thánh Phêrô cũng đã tuyên xưng" bỏ Thầy
con biết đi theo ai. Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Bởi Thầy là
Đấng Thánh của Thiên Chúa". Và như vậy hạnh phúc và ý nghĩa đời ta tuỳ
thuộc vào thái độ và tương quan của ta với Đức Kitô. Anh Charles de Foucaul xác
tín " biết Đức Kitô đó là tất cả, phần còn lại chẳng là gì hết". Biết
Đức Kitô là biết, yêu mến và nên một với Người.
+ Bước theo Đức Kitô đòi ta phải từ bỏ
không phải một lần nhưng là mọi ngày trong suốt đời ta. " Ai muốn theo
Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập gía mình hàng ngày mà theo tôi". Sự
đòi hỏi của Đức Kitô có tính triệt để hiến dâng "không có tình yêu nào cao
hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì người mình yêu". Bạn và tôi
được mời gọi từ bỏ những gì mình có, từ bỏ những gì làm thành cuộc đời mình, để
thuộc về Đức Kitô cách trọn vẹn hơn. Cụ thể, người trẻ chúng mình phải bỏ qua
lối sống đạo hời hợt bên ngoài, sống đạo cách tiêu cực, sống đạo theo thói quen
mà thiếu hẳn xác tín, thiếu hẳn tình yêu và nhất là thiếu tính dấn thân trong
việc sống, làm chứng và loan báo Chúa Kitô cho những người xung quanh
Cầu chúc các bạn hạnh phúc và làm cho
mọi người và Thiên Chúa hạnh phúc.
19. Suy niệm của Lm Mark Link.
VÌ TÌNH YÊU CHÚNG TA PHẢI LÀM NHIỀU HƠN
NỮA
"Chỉ cần chúng ta tiến về phía
Chúa một bước, thì Ngài sẽ chạy về phía chúng ta mừơi bước"
James Kallam kể lại một mẩu chuyện vui
trong các bài viết của ông như sau: Cách đây nhiều năm, có một thanh niên làm
nghề bán sách rong từ nhà này đến nhà kia, anh đến hành nghề tại một vùng quê
nọ. Một hôm, anh vào nhà một nông gia, ông này đang ngồi trên chiếc ghế xích đu
ở cổng trước. Chàng thanh niên đến gần người nông dân nhiệt tình ngỏ lời:
"Thưa ông, tôi có bán một cuốn sách chỉ cách canh tác sinh lợi gấp 10 lần
cách ông đang làm".
Người nông dân chẳng thèm ngước lên.
Ông tiếp tục đong đưa chiếc ghế đu. Cuối cùng, sau vài phút, ông ta liếc mắt
nhìn chàng thanh niên rồi nói; "Này anh bạn trẻ, tôi chả cần sách của anh,
tôi cũng biết làm thế nào để canh tác sinh lợi gấp 10 lần cách thức tôi hiện
đang làm".
***
Câu chuyện trên giúp ta hiểu rõ điều
Chúa Giêsu đang nói trong bài Phúc Âm hôm nay. Người nông dân có khả năng canh
tác tốt hơn nhưng ông ta lại thiếu nhiệt tình để dấn thân làm điều ấy. Chàng
thanh niên giàu có trong bài Tin Mừng cũng dư sức làm nhiều hơn là chỉ tuân giữ
các giới luật, nhưng anh ta chả có nhiệt tình để làm điều ấy. Bài Phúc Âm hôm
nay nói thẳng cho ta thấy Kitô giáo không chỉ hệ tại việc tuân giữ các lệnh
truyền. Chúa Giêsu tra vấn anh chàng giàu có về sự tuân giữ lệnh truyền như là
khởi điểm cho đời sống Kitô hữu. Chàng trả lời là đã tuân giữ tất cả lệnh
truyền ấy, tức là chưa hề làm gì thương tổn ai... Về điểm này Chúa Giêsu tỏ ra
thán phục anh ta. Nhưng đồng thời Ngài lại cho chàng ta thấy rõ Kitô giáo không
chỉ là việc tuân giữ các huấn lệnh tiêu cực ấy như đừng trộm cắp hay lừa
đảo.... Kitô giáo mang tính tích cực hơn nhiều: Ngài nói thẳng với anh chàng
giàu có:
"Anh chưa bao giờ gây thương tổn
cho ai quả là đáng khen, nhưng anh đã làm gì để giúp đỡ ai chưa? Anh đã biết
dùng của cải để cho kẻ đói ăn, cho kẻ trần truồng mặc, cho kẻ vô gia cư trú ngụ
chưa?"
Chính khi nghe điều này anh chàng giàu
có kia nhận ra mình vẫn còn khiếm khuyết biết bao. Vì vậy Chúa Giêsu bèn thách
thức anh: 'Nếu muốn theo tôi thì anh hãy thay đổi cách nhìn đi, đừng chỉ nhắm
đến sự tốt lành một cách tiêu cực, tỉ như không gây thiệt hại cho ai – và anh
hãy nhắm sống tốt lành một cách tích cực hơn, chẳng hạn như giúp đỡ người khác.
Cứ thực hành điều này, anh sẽ tìm thấy hạnh phúc ngay trong cuộc sống này và cả
trong cuộc sống mai sau"
Thách đố Chúa Giêsu đặt ra cho anh
chàng giàu có thể tóm lược như sau; Anh có dám chấp nhận mọi thiệt thòi để đạt
được cuộc sống vĩnh cửu mà anh mong muốn không? Anh có quan niệm bước theo tôi
là bị thiệt thòi không? Nghĩa là anh có sẵn sàng hy sinh của cải của anh để
được sống vĩnh cửu, cũng như để theo tôi không?
Anh chàng giàu có trả lời:
- Thưa thầy, tôi cũng muốn theo Ngài
lắm, nhưng tôi không muốn chấp nhận sự thiệt thòi kia;
Thế là anh chàng thanh niên giàu có
đành từ chối lời mời gọi của Chúa Giêsu. Việc dùng của cải không chỉ cho bản
thân và gia đình xem ra là một hy sinh quá lớn đối với anh.
Điều này bày ra trước mắt mỗi người
chúng ta ngay bây giờ hình ảnh sau: Nhiều người trong chúng ta giống như anh
nông dân ngồi chơi trước cổng nhà. Chúng ta biết rõ chính mình có thể trở thành
một Kitô hữu, tốt hơn gấp mười lần tình trạng hiện nay nhưng chúng ta vẫn thiếu
nhiệt tình để làm điều ấy.
Chúng ta khác nào anh chàng giàu có
trong Phúc Âm hôm nay. Chúng ta cũng đã tuân giữ những luật truyền, nhưng chúng
ta vẫn chưa đủ quảng đại hết sức có thể đối với những người túng thiếu, kẻ trần
trụi và người đói khát.
Vì công việc đó đòi hỏi chúng ta phải
hy sinh, phải chấp nhận thiệt thòi, đau khổ, phải can đảm và phải khôn ngoan
sáng suốt để nhận ra rằng sự hy đó là cần thiết để đem lại an bình và vui tươi
trong tâm hồn. Và để có thể hy sinh và chấp nhận những thiệt thòi đau khổ đó,
điều hết sức quan trọng là phải có một động lực mạnh để thúc đẩy ta, và động
lực đó chính là tình yêu: yêu Thiên Chúa và thương tha nhân. Tình yêu đó sẽ
thúc đẩy chúng ta làm nhiều hơn những đòi hỏi tiêu cực của lề luật: cấm hại
người, cấm gian dối, cấm trộm cắp... Một thanh niên yêu một thiếu nữ sẽ không
chỉ hài lòng với việc không làm hại cô ấy, không nói dối, không xúc phạm đến cô
ấy.. Tình yêu khiến anh phải làm hơn như thế rất nhiều, và nếu không làm hơn
được như thế, chắc chắn đó không phải là tình yêu. Cũng vậy, nếu chúng ta chỉ
hài lòng với những giới luật Chúa dạy, chúng ta mới chỉ là người "quen
biết" với Chúa, chưa phải là người yêu Chúa. Nếu chúng ta không muốn làm
điều gì tích cực hơn nữa, chính là vì chúng ta thiếu tình yêu, chúng ta chưa
yêu Chúa và thương tha nhân.
Chắc chắn nhiều người trong chúng ta đã
biết mình phải làm gì để trở thành một Kitô hữu tốt hơn gấp mười lần hiện nay,
nhưng chúng ta đã không làm, vì chúng ta thiếu tình yêu, thiếu nhiệt tình. Cũng
như anh chàng nông dân ngồi trên ghế xích đu kia, anh đã biết rõ phải làm gì để
canh tác có hiệu quả gấp mười lần phương pháp anh đang làm, nhưng anh đã không
thèm làm. Lý do có thể là anh ngại ngùng phải bỏ vốn ra nhiều hơn, phải bỏ ra
nhiều công sức hơn, phải mệt mỏi hơn. Lý do sâu xa hơn khiến anh ngại là vì anh
chưa thấy nhu cầu của vợ con anh đang càng ngày càng tăng lên, hay anh chưa đủ
quan tâm đến những nhu cầu ấy, hay nói cách khác đi là tình yêu của anh đối với
những người thân của mình chưa đủ mạnh để thúc đẩy anh hoạt động, làm những gì
phải làm và nên làm.
Tình trạng đó Thánh Phaolô cũng đã cảm
nghiệm được nơi con người của ngài. Ngài viết: "Quả thực ngay những gì
điều tôi làm tôi cũng không hiểu được nữa, vì những gì tôi muốn thì tôi lại
không làm, còn những gì tôi không muốn thì tôi lại cứ làm" (Rm 7:15). Và
ngài đã giải thích tình trạng đó như sau: không phải là tôi hành động, mà là
tội lỗi ở trong tôi đã hành động (Rm 7:20). Và theo ngài chỉ có Đức Kitô mới có
thể cứu ta ra khỏi tình trạng ấy. (Rm 7:24). Do đó, muốn thoát khỏi tình trạng
ù lỳ không chịu làm những gì cần phải làm, ta phải tin tưởng vào ngài đã đến để
giải phóng ta khỏi tình trạng đó, và ta cũng phải hết lòng yêu mến ngài qua
những người sống bên cạnh ta, chung quanh ta. Chỉ có tình yêu mới giải phóng ta
khỏi tình trạng ù lỳ đó. Tình yêu phát sinh sức mạnh.
Rất nhiều người trong chúng ta có tâm
trạng hài lòng vì mình đã theo được chính đạo, và tự mãn vì mình đã giữ luật
Chúa một cách trọn vẹn từ hồi nhỏ, giống như anh chàng thanh niên giàu có trong
bài Tin Mừng hôm nay. Đó là một điều rất đáng khen, và Thiên Chúa cũng rất hài
lòng vì ta đã sống được như vậy. Chính Chúa Giêsu cũng đã nhìn chàng thanh niên
đó một cách thiện cảm và đem lòng yêu thương. Nhưng qua bài Tin Mừng hôm nay,
Đức Giêsu còn kêu mời chúng ta đi xa hơn một bước kia, là sẵn sàng hy sinh
nhiều hơn nữa cho Thiên Chúa và tha nhân. Đang khi bên cạnh chúng ta còn biết
bao nhiêu người nghèo khổ túng thiếu, hay cần tới sự giúp đỡ cụ thể của chúng
ta, chúng ta không thể vừa nói mình yêu Chúa lại vừa làm ngơ hay phớt lờ những
nhu cầu của họ. Tình yêu thúc đẩy ta phải làm một cái gì cụ thể để thoả mãn
phần nào những nhu cầu đó của anh em. Và chúng ta cũng cần phải có con mắt nhận
xét và tâm hồn nhạy bén để nhận ra những nhu cầu ấy nơi những người sống gần
mình nhất. Để đi vào cụ thể, tôi xin đề nghị với anh chị em là mỗi ngày chúng
ta dành ra ít phút suy nghĩ để xét xem những người ở gần ta có nhu cầu gì mà ta
có thể giúp đỡ cụ thể được, và chúng ta quyết định mỗi ngày làm một hai việc cụ
thể giúp ích cho người khác, việc đó càng buộc ta phải hy sinh, thiệt thòi, mất
mát thì càng tốt, và tối đến ta xét lại xem mình đã thực hành quyết định đó thế
nào. Làm được như thế, chính là đã áp dụng phần nào tinh thần của bài Tin Mừng
hôm nay.
Để kết thúc, tôi xin nhắc lại lời kinh
Cáo Mình mà chúng ta đọc mỗi khi chuẩn bị dâng Thánh Lễ, trong đó có câu;
"tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm, và những điều
thiếu sót". Tôi xin nhấn mạnh đến "những điều thiếu sót", là
những gì mà chúng ta đáng lẽ phải làm, nên làm, mà chúng ta đã không làm. Là
những lần đáng lẽ chúng ta phải ra tay cứu giúp người khác mà ta đã không ra
tay. Là những lần đáng lẽ chúng ta phải hy sinh cho người khác mà ta đã không
hy sinh, vì chúng ta không muốn bị thiệt thòi, bị mất mát, bị phiền hà, là
những lần đáng lẽ chúng ta phải bỏ tiền bạc ra để cứu giúp ai đó, nhưng vì tính
bỏn xẻn, tính toán, khiến chúng ta lại thôi. Là những lần đáng lẽ chúng ta phải
can đảm đứng ra bênh vực lẽ phải, nhưng vì sợ bị liên lụy, sợ bị lôi thôi, mà
chúng ta đành làm ngơ để cho bất công được tự do hoành hoành. Mỗi lần đọc kinh
Cáo Mình khi dâng Thánh lễ, chúng ta phải nghĩ đến những thiếu sót đó.
20. Chú giải mục vụ của Jacques
Hervieux.
KÊU GỌI NGƯỜI ĐÀN ÔNG GIÀU CÓ
(10,17-22)
Một khung cảnh khá thi vị đã đưa đoạn
Phúc Âm mới mẻ này vào mục bàn về cách thức để trở nên môn đệ CHúa Giêsu. Một
người đàn ông chợt xuất hiện cản lối Chúa Giêsu (c.17a). như ta sẽ thấy, người
Do Thái này biểu lộ lòng kính trong hiếm có đối với Chúa. Cử chỉ quỳ gối của
anh ta nằm trong nghi thức phụng vụ (chúng ta đã thấy cử chỉ này nơi người
phong hủi: 1,40). Con người vô danh nọ khen tặng Chúa Giêsu bằng cách gọi Ngài
là "Thầy nhân hậu" (c.17b). Tuy nhiên, Chúa Giêsu thoái thác lời ca
tụng này. Ngài tuyên bố: "Không có ai nhân hậu cả trừ mình Thiên
Chúa" (c.18). Hẳn người ta ngạc nhiên về lối đối đáp này. Đứng trước kẻ lạ
mặt tượng trưng cho "dân Chúa chọn" trước hết Chúa Giêsu muốn tái xác
định điều cốt lõi trong đức tin Do Thái. Chỉ mỗi Thiên Chúa, trong sự siêu vượt
tuyệt đối của Ngài mới thủ đắc: "Sự nhân hậu". Sau khi tán dương Chúa
Giêsu người nọ liền đưa ra một câu hỏi thích đáng: "Tôi phải làm gì để
được sống đời đời?" (c.17c). Lo tìm hạnh phúc tương lai là điều đáng khái
niệm nơi những người Do Thái đạo đức, dẫn đầu là đám biệt phái. Chắc hẳn Chúa
Giêsu tán đồng câu hỏi này. Và rồi như bất cứ vị giáo sĩ đương thời nào Chúa
Giêsu bắt đầu nêu lên rõ ràng những gì theo truyền thống Do Thái cũng như tư
tưởng riêng cá nhân Ngài cho là cốt lõi của luật Môsê. Với tư cách sành sỏi lề
luật, trước hết Chúa Giêsu trưng dẫn cho anh ta những đoạn rút từ Mười giới luật
(Xh 20,1-17) tức những giới luật Chúa truyền dạy liên quan đến tình yêu đồng
loại. Câu "chớ làm hại ai" được thêm vào bản văn Kinh Thánh nhưng tóm
tắt được tinh thần toàn bộ văn bản.
Như thế trước con mắt Chúa Giêsu, thực
thi giới luật của Chúa là con đường bình thường và đầy đủ để đạt đến "cuộc
sống đời đời". Là người thân thiết với bộ luật Torah, anh nọ liền mau mắn
trả lời với Chúa Giêsu anh đã "giữ" tất cả các giới luật này từ thời
niên thiếu (c.20). Điều ấy chứng tỏ sự ngay thẳng và ngoan đạo của người Do
Thái này. Chúa Giêsu lấy làm phấn khởi, và Maccô thích thú ghi nhận điều đó
(c.21a). Nơi tác giả Phúc Âm này, cái nhìn của Chúa Giêsu luôn chứa đựng một
điều gì đó khó quên được. Đa số thường là cái nhìn giận dữ (3,5; 10,14) hoặc dò
xét (3,34; 5,32; 10,23); thế mà ở đây lại là cái nhìn đầy trìu mến, quý chuộng
sâu xa. Thành ngữ kế tiếp: "Ngài đem lòng yêu mến" diễn ta một sự
phong phú bất ngờ. Trong Cựu ước, tình yêu Thiên Chúa đã khiến Ngài chọn Israel
làm dân riêng Ngài (x.Đnl 7,7-8). Cũng chính tình yêu Thiên Chúa thôi thúc Chúa
Giêsu chọn lựa người Do Thái tín trung này. Sự chọn lựa được biểu lộ bằng một
lời kêu gọi có tính cách đòi hỏi khác thường (c.21b).
Lời kêu gọi ấy đã nhận được một âm
hưởng sâu xa trong Giáo Hội. Trong Giáo Hội sơ khai một trong những dấu chỉ của
sự "hoán cải về với Chúa Kitô" và thuộc về cộng đồng Kitô hữu chính
là sự chia sẻ của cải để phục vụ những kẻ nghèo khó nhất (Cv 2,44; 4,32-35).
Tuy nhiên, ở đây trước hết phải nhớ rằng lời kêu gọi của Chúa Giêsu đang ngỏ với
một trường hợp riêng biệt, tức ngỏ với người đàn ông đang đứng trước mặt Ngài.
Ngài yêu cầu anh ta bỏ tất cả mọi sự để theo Ngài. Đây là lời yêu cầu không
phải được nói với tất cả mọi người. Vào đầu Phúc Âm, người ta tìm thấy lời yêu
cầu này khi Chúa kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên (1,16-20). Chỉ với một số người,
chứ không phải với tất cả mọi người, Chúa Giêsu đề nghị họ giải thoát mọi vướng
bận để bước theo Ngài. Trước hết, chính kiểu sống này đã được Chúa Giêsu chọn
cho mình trong khi thi hành sứ vụ: Ngài là một thừa sai lang thang, hy sinh tối
đa những điều kiện của một cuộc sống bình thường, chẳng hạn một mái ấm gia đình
và của cải. Hiện nay, Chúa Giêsu vẫn còn đưa ra lời kêu gọi kiểu ấy. Tuy nhiên
tất cả ý nghĩa lời mời gọi Ngài nói với người Do Thái trung tín đang chất vấn
Ngài hệ tại những từ ngữ này: "Hãy đến và theo tôi" (c. 21d), nghĩa
là hãy "đi xa hơn đức tin của cha ông anh" và hãy khởi sự một hành vi
hoàn toàn mới mẻ là trở nên "môn đệ của" Đấng Mêsia là chính tôi đây
(x.1,17; 2,l4). Sự vượt qua này quả không dễ dàng đúng như sự từ chối của người
nọ chứng tỏ (c.22) chỉ mãi đến lúc này chúng ta mới biết được người ấy rất giàu
và chính sự giàu có đã ngăn cản không cho anh ta tích cực đáp lại tiếng gọi của
Chúa Giêsu. Trong cuộc trò chuyện tiếp theo sau đó với các môn đệ, Chúa Giêsu
đã nhấn mạnh điều ấy: Chiếm hữu của cải là một chướng ngại lớn lao ngăn cản
người ta bước theo Ngài, bởi vì điều này đòi hỏi sự siêu thoát tự nguyện
(x.10,23-31). Ngay lúc đó, chỉ cần người đàn ông được Chúa Giêsu ngỏ lời biết
rằng sau khi siêu thoát mọi của cải trần thế của mình, anh ta sẽ được "một
kho tàng trên trời" (c.21c)!
Đoạn Phúc Âm này cho chúng ta tham dự
vào một ơn kêu gọi bất thành. Tuy nhiên vượt qua trường hợp cá biệt được nêu ra
đây, toàn thể truyền thống Phúc Âm đều xem đó là một "bài học kiểu
mẫu" (Mt 19,16-22 và Lc 18,18-23). Đằng sau khuôn mặt người Do Thái tín
trung với lề luật Môsê từ tấm bé diễn ra lịch sử dân tộc Israel, một dân tộc
lấy Thập giới làm quy luật sống để hướng tới "cuộc sống vĩnh cửu" là
kho tàng Thiên Chúa hứa cho dân Ngài. Còn ở đây Chúa Giêsu được trình bày như
là Đấng Mêsia đến để mặc khải một đòi hỏi cao hơn tôn giáo của người Do Thái.
Ngài đòi hỏi đám dân biết tuân giữ luật Thiên Chúa một điều "cao hơn
nữa" (x. "Anh chỉ còn thiếu có một điều..." (c.21a). Tin Mừng
Chúa Giêsu đề nghị là lời kêu gọi vượt cao hơn. Trung thành với giới luật của
Thiên Chúa thì chưa đủ, còn phải bước "theo" chính Đấng Mêsia nữa.
Điểm chính yếu trong trình thuật này không phải hệ tại việc từ bỏ của cải mà hệ
tại việc gắn bó với chính Chúa Giêsu; đức tin Kinh Thánh vừa kiện toàn vừa hoàn
tất đức tin Do Thái giáo. Chúng ta đừng quên rằng câu chuyện người đàn ông giàu
có này được kể lại ngay giữa cuộc hành trình quyết liệt của Chúa Giêsu tiến về
cuộc khổ nạn của Ngài (từ 9,30-31). Không thể theo Chúa Giêsu, tức không thể
trở thành Kitô hữu, nếu không biết tự thoát.
NƯỚC THIÊN CHÚA VÀ CỦA CẢI (10, 23-31)
Lời từ chối vừa rồi của người đàn ông
giàu có (10,17-22) là dịp để Chúa Giêsu giúp các môn đệ hiểu biết thêm. Giữa
Nước Thiên Chúa và của cải có sự tương hợp nào chăng? Một lần nữa Chúa Giêsu
đảo mắt nhìn các môn đệ (x. 3,34-35) điều này dự báo Ngài sắp sửa đưa ra một
lời dạy quan trọng (c.23a). Và đây là lời dạy đó: " Những người có của mà
vào được trong Nước Thiên Chúa thật khó biết bao!" (c.23b). Phản ứng của
đám bạn hữu Chúa Giêsu cho thấy rõ tâm trí họ phản đối không muốn tiếp nhận một
sứ điệp như thế (c.24a). Chúa Giêsu buộc phải nhấn mạnh lần nữa lời cảnh giác
của Ngài (c24b). Và để minh họa rõ sự khó khăn này, Ngài đã sử dụng một hình
ảnh mà sau này đã trở nên phổ biến: "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn
người giàu vào Nước Thiên Chúa" (c.25). Ở đây rõ ràng Chúa Giêsu sử dụng
phép khuyếch đại. Người Đông phương rất thích dùng những kiểu nói khoa trương như
thế để kích thích sự chú ý. Và vào thời đó, hình ảnh con lạc đà chở nặng trên
mình diễn đạt tuyệt hảo hình ảnh người giàu bị vướng tay vướng chân vì của cải.
Chúa Giêsu rất rành nghệ thuật kích
thích cho kẻ khác phải suy nghĩ. Các môn đệ cực kỳ chưng hửng đã đạt ra cho
Ngài câu hỏi sau: "Thế thì ai có thể được cứu?" (c.26). Ai cũng biết
Maccô thường có thói quen nêu bật "sự ngu muội" của các môn đệ trước
lời giảng dạy khó hiểu của Thầy mình. Lần này, họ cũng ráng hỏi xem cho biết có
kẻ nào, ở vào những điều kiện giàu có này, được cơ may cứu độ chăng. "Chúa
Giêsu nhìn họ (một lần nữa Ngài muốn khắc ghi vào đầu óc họ tư tưởng của Ngài)
và trả lời: "Đối với loài người thì không thể được nhưng đối với Thiên
Chúa thì không phải thế vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được"
(c.27). Lời quả quyết này rất rõ ràng. Ơn cứu độ hoàn toàn vượt qua những khả
năng của loài người. Đó là một ơn nhưng không của Thiên Chúa vì chỉ mình Thiên
Chúa mới "có thể" cứu độ loài người.
Chắc chắn quan điểm này còn khiến các
môn đệ hoang mang hơn lời cảnh giác trước đó nữa. Bằng chứng là phản ứng của
Phêrô người đứng đầu trong nhóm họ (c. 28). Nhân danh nhom Mười Hai, Phêrô thắc
mắc muốn biết sự dấn thân của toàn nhóm họ theo Chúa Giêsu có được thưởng gì
không? Người ta còn nhớ rõ Maccô đã đánh giá cao việc các môn đệ đầu tiên khi
vừa nghe Chúa gọi đã bỏ gia đình và của cải để trở thành môn đệ Ngài (1,16-20).
Không lẽ lòng quảng đại lớn lao của họ lại vô ích sao? Nếu đám người giàu có,
mặc dù lắm của cải vẫn không thể vào Nước Thiên Chúa thì đã dành, còn những kẻ
từ bỏ cả những của cải hợp pháp nhất liệu không có cơ may được vào nơi đó?
Những kẻ từ khước các người thân yêu và của cải quý giá để gắn bó với Chúa
Giêsu thì chắc chắn sẽ lãnh được một phần thưởng không nhỏ. Và lần này Chúa
Giêsu lại dùng phép khoa đại theo lối Đông phương. Họ sẽ nhận "gấp
trăm": trăm lần nhiều hơn những gì họ đã từ khước.
Maccô rất ý thức rằng những gì ông viết
ra đây tác động mạnh đến tâm hồn các Kitô hữu Rôma của ông. Để hoán cải về với
Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài ("vì Thầy và vì Tin Mừng") một số
người trong họ đã phải chịu những chia lìa đớn đau với cha mẹ cũng như phải từ
bỏ quyền tài sản của mình. Phúc Âm gia nhấn mạnh: theo gương Chúa Giêsu Đấng đã
từng hứng chịu những sự chia lìa này, các Kitô hữu đã tìm thấy được trong cộng
đoàn Kitô hữu một gia đình mới và những của cải mới (x, 3,31-35). Ngay từ bây
giờ, Chúa Giêsu đã cho họ nếm được chút ít hương vị của diễm phúc tương lai tức
"cuộc sống vĩnh cửu". Tuy nhiên Maccô vẫn nhận thức rõ hiện trạng của
các Kitô hữu này không phải là không đen tối. Là người thực tế, Maccô đã chêm
"những cuộc bách hại" vào trong chuỗi "phần thưởng" được
hứa hẹn! Ông đã đọc lại bằng những từ ngữ tương tự những gì trước đó Chúa Giêsu
đã tuyên bố: "Kẻ nào đánh mất mạng sống vì Thầy và vì Phúc Âm thì sẽ cứu
được mạng sống ấy" (8,35). Đoạn Phúc Âm này kết thúc bằng một câu nói mang
dáng dấp ngạn ngữ: "Nhiều người trước hết sẽ thành rốt hết, và những người
rốt hết sẽ thành trước hết" (c. 31). Câu này xem ra chẳng liên hệ gì đến
những điều Chúa Giêsu vừa mới nói về trở ngại của sự giàu có ngăn cản người ta
vào Nước Trời. Đây hẳn là một câu nói "trôi nổi" đâu đó của Chúa
Giêsu mà các Phúc Âm gia đã quên mất là Chúa đã nói câu ấy chính xác vào dịp
nào. Mỗi người tháp nhập câu nói ấy vào một mạch văn khác nhau (x. Mt 19,30 và
20,16). Khởi đầu, câu ấy có thể nhắm đến việc thay đổi tình trạng. Những
"kẻ trước hết" tức những người Do Thái, thành viên của dân được Chúa
chọn, đã không đáp lại lời kêu gọi của Chúa Giêsu. Họ đã đánh mất đi hồng ân
được Chúa chọn. Còn "những kẻ rốt hết" tức đám dân ngoại thay thế chỗ
của dân Do Thái, đang ào ạt gia nhập Giáo Hội. Tuy nhiên ở đây đối với Maccô,
câu nói lẻ loi này mang một ý nghĩa khác, khá phù hợp với tình cảnh hiện thời.
Các Kitô hữu bị bách hại được xếp vào hạng người rốt hết trong nhân lọai! Và họ
được hứa hẹn sẽ hoàn toàn thoát ra khỏi tình cảnh hiện tại của họ.
Toàn bộ những gì chúng ta vừa đọc nơi
Maccô (10,23-31) hầu như cũng thấy ghi lại trong Phúc Âm Matthêu (19,23-30) và
Phúc Âm Luca (18,18-30). Điều đó chứng tỏ đây là một giáo lý rất lâu đời nói về
"những cám dỗ của sự giàu có" rất dễ bóp nghẹt Lời Chúa trong trái
tim các tín hữu. Tư tưởng Chúa Giêsu khởi từ những của cải vật chất (c. 23-27)
để lan rộng đến những mối dây liên hệ gia đình (c. 28-31). Chắc chắn tư tưởng
này đáp ứng được những vấn đề đặt ra cho Giáo Hội sơ khai một khi nó bành
trướng đến những vùng dễ sống hơn. Cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên đã cố gắng nêu
gương bằng cách phân chia của cải chung với nhau đến nỗi ở đó không còn người nghèo
nữa (x. Cv 4, 32-34).
Cùng đọc song song ba Phúc Âm Maccô,
Matthêu và Luca, chúng ta sẽ thấy các vấn đề liên quan đến "đời sống cộng
đoàn" đều được mỗi tác giả gom chung vào với nhau. Chính vì thế mà trong
ba Phúc Âm nhất lãm, các ý kiến sau đây về các vấn đề của Chúa Giêsu được xếp
chung theo cùng một trật tự – Vấn đề hôn nhân và ly dị (Mc 10,1-12) – Trẻ em và
những và những kẻ giống như chúng (Mc 10,13-16) – Kêu gọi người đàn ông giàu có
(Mc 10,17-22) – Nước Thiên Chúa và của cải (Mc 10,23-31).
Khuôn khổ mà các chủ đề này được đề cập
đến thích hợp thật diệu kỳ với chúng ta. Đây là dịp Chúa Giêsu tiến về
Giêrusalem để Ngài cảm nhận ở đó sự từ bỏ chua cay nhất là tức là cái chết.
Giữa lần loan báo thứ hai về cuộc khổ nạn (9,30-31) và lần thứ ba sắp xảy ra
(10, 32-34), chủ đề "Con đường đạo" đương nhiên cho phép chúng ta xem
xét đến những điều kiện để theo Chúa Giêsu và để được vào Nước Thiên Chúa: đó
là sẵn sàng mở lòng tiếp nhận đồng thời sẵn lòng siêu thoát mọi sự để theo
Chúa.
21. Chú giải của Noel Quesson.
Đức Giêsu vừa lên đường, thì có một
người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: "Thưa Thầy nhân lành,
tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?"
Đây là một cảnh sống động. Một người
đầy ham muốn: Người ấy chạy đến và sụp quỳ dưới chân Đức Giêsu, vừa thở hổn
hển, người ấy vừa đặt câu hỏi.
Khi ta biết người này là ai (nhờ đoạn
tiếp sau của trình thuật ta sẽ ngạc nhiên, vì đây là một người có đầy đủ mọi
thứ để được hạnh phúc theo tiêu chuẩn thông thường: Anh ta giàu sang, có nhiều
"của cải lớn", hơn nữa, cuộc sống anh ta ngay thẳng, anh tuân giữ
những giới răn từ thuở còn nhỏ. Trong mọi tương quan với người khác. Chắc hẳn
anh ta được kính nể. Vậy anh ta còn thiếu điều gì? Anh ta còn cần gì nữa? Tại
sao anh ta lại mong ước điều gì khác?
Đức Giêsu đáp: "Sao anh nói tôi là
nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa".
Đó là câu trả lời sắc bén như dao. Con
người giàu có này đã quen với những "tước vị". Vì quá hâm mộ, anh ta
nói thêm. Thường thường người ta chỉ gọi Đức Giêsu bằng "Thầy", còn
anh ta quen giao thiệp rộng nên đã thêm từ "nhân lành". Đức Giêsu
không thích những kiểu nói tâng bốc đó. Người thích sự đơn giản hơn, Người
khước từ những tước vị mang tính khoe khoang. Hơn nữa, Đức Giêsu là Người luôn
nói về Thiên Chúa. Người luôn hướng về Chúa. Ở đây chúng ta nghe người thốt lên
một lời dễ gây ngạc nhiên: Dường như Đức Giêsu không biết Người là Thiên Chúa!
Người khước từ chữ "nhân lành". Đây không phải là trường hợp - duy
nhất mà Đức Giêsu khiêm tốn tự cho mình là "thấp kém" hơn Chúa Cha,
hơn Thiên Chúa: Một hôm khác người còn dám quả quyết, Người "không biết
ngày chung thẩm, mà chỉ có mình Chúa Cha mới biết" (Mc 13,32).
Đức Giêsu nói chỉ có một mình Thiên
Chúa mà thôi. Tôi cầu nguyện từ lời quả quyết triệt để này.
"Hẳn anh biết các điều răn: Chớ
giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai,
hãy thờ cha kính mẹ".
Danh sách và thứ tự các giới răn làm
cho ta ngạc nhiên. Trước tiên, Đức Giêsu không nêu những giới răn "đối với
Thiên Chúa" như là giới răn đầu tiên. Hình như qua tình yêu tha nhân, ta
chứng tỏ tình yêu đối với Thiên Chúa. Thông thường tự nhiên ta dễ nghĩ đến
những "bổn phận" về tôn giáo hơn, để đạt đến sự sống đời đời. Một lần
nữa, Đức Giêsu hướng chúng ta thiết thân gắn bó với những người anh em của
mình, với những mối tương quan nhân bản.
Hơn nữa, Đức Giêsu đã thêm một điều răn
mới rất ý nghĩa vào mười giới răn cố hữu: "Chớ làm thiệt hại ai" như
thể điều răn này tóm tắt các điều khác. Chúng ta cũng nên để ý rằng, "bổn
phận đối với cha mẹ" được kể cuối cùng. "Điều răn thứ bốn" được
đời ra sau chót, như Đức Giêsu đã muốn đặt lên hàng đầu những cám dỗ đối với
người có tiền của: Lấy của kẻ khác, làm thiệt hại kẻ khác, làm giàu cách bất
chính...
Anh ta nói: "Thưa Thầy, tất cả
những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ".
Quả thật đây là một người ngay thẳng,
có hướng tâm.
Anh ta tuân giữ lề luật. Anh ta sống có
kỷ cương. Đức Giêsu không phủ nhận sự thành thực của những lời anh ta nói.
Người ta tưởng câu chuyện sẽ kết thúc ở đây. Đây là một người có quyền hưởng sự
sống đời đời! Chúng ta hãy nghe đoạn sau.
Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem
lòng yêu mến.
Đó là cái nhìn của Đức Giêsu. Tôi cố
tưởng tượng lại: Một cái nhìn đầy thương yêu. Đức Giêsu tỏ vẻ trìu mến. Người
đang yêu thương. Người cảm động.
Người bảo anh ta: "Anh chỉ thiếu
có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một
kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Tôi."
Vậy sống lương thiện và tuân giữ mọi
giới răn cũng chưa đủ sao?
Ta tưởng rằng con người này trung thành
không có gì chê trách được, thế mà bây giờ lại gặp một đòi hỏi mới, sẽ rọi
chiếu vào tận đáy lòng anh: Anh có tự do không hay chỉ là nô lệ? Thái độ của
anh đứng trước tiền bạc của cải vật chất như thế nào?
Thật lạ lùng và đáng ngạc nhiên khi ta
liên tục gặp thấy đòi hỏi trên đây của Đức Giêsu. Người không ngớt nhắc lại
điều này. Đó là lời kêu gọi đầu tiên của Người: "Hãy theo Ta", tức
khắc họ bỏ lưới và cha của mình dưới thuyền... (Mc 1,18-19). Đó cũng là chỉ thị
đầu tiên của Đức Giêsu đối với các môn đệ Người sai các ông đi thi hành sứ
vụ,Người truyền cho họ không được đem gì đi đường, không bánh, không bị, không
tiền trong thắt lưng! (Mc 6,8).
Đó còn là hệ luận đầu tiên phải rút ra
từ lời loan báo cuộc thương khó của Chúa: "Kẻ nào muốn theo Ta, phải từ bỏ
chính mình" (Mc 8,34). Đức Giêsu đã không bao giờ nói khác Người có những
ý nghĩ theo nhau rõ ràng. Người yêu cầu một sự lựa chọn dứt khoát. Người đòi
hỏi "trọn vẹn". Muốn theo Người, phải bỏ tất cả. Đây là một đòi hỏi
vô biên. Tin Mừng không phải là một cách giải quyết dễ dàng cho mọi vấn đề, mà
là một cuộc phiêu lưu vĩ đại, đầy nguy cơ liều lĩnh tối đa. Thật là một tham
vọng quá lớn.
Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và
buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải
Đây là một người cũng giống chúng ta
thôi. Chúng ta chớ nên lên án anh ta. Chúng ta cũng không thường mong muốn nếp
sống hoàn hảo và sự sống đời đời sao?
Thế mà lại không nhất quyết trả giá cho
những điều đó Trình thuật về ơn gọi lúc này, nhắc chúng ta rằng chính chúng ta
cũng đã từng khước từ những lời mời gọi của Thiên Chúa tới hưởng nguồn vui, mặc
dầu bề ngoài chúng ta phải dứt bỏ nhiều thứ sự "buồn bã" của người
này rất có ý nghĩa: Anh ta có nhiều tiền, có nhiều của cải lớn, và với sự sung
túc này anh ta vẫn không được hạnh phúc. Đó không phải là hình ảnh của phương
Tây quá tràn đầy của cải vật chất sao? Nhưng chúng ta hãy đi xa hơn, và hãy can
đảm nhìn nỗi đau buồn đang làm tối sắm khuôn mặt của anh. Đấy phải chăng là dấu
hiệu hồng ân đầu tiên đã bắt đầu đến với anh sao? Cho đến lúc đó, anh không ý
thức được điều cốt yếu mà anh còn thiếu. Anh vẫn tưởng rằng, của cải là đủ. Bây
giờ anh mới biết, anh còn có một định mệnh khác.
Lạy Chúa xin biến những nỗi buồn của
chúng con trở nên tích cực, có thể đánh thức chúng con ra khỏi không ảo ảnh và
ngủ mê. Chúng con đã được tạo dựng cho Chúa. Tâm hồn chúng con, ước muốn của
chúng con quá cao không thể chỉ thỏa mãn những của cải hữu hạn trần gian:
"Lạy Chúa, xin hãy đến, vì chỉ có Chúa mới làm cho chúng con được no
thỏa".
Đức Giêsu rảo mắt nhìn chung quanh, rồi
nói với các môn đệ
Một lần nữa, Thánh sử Máccô ghi nhận
ánh mắt của Đức Giêsu. Chúa nhìn tôi. Chúa nhìn những người mà tôi thương yêu.
Chúa nhìn thế giới của chúng ta. Chúa nhìn những đám đông ở những siêu thị.
Chúa nhìn dân chúng trong những nước thuộc thế giới thứ ba. Và cái nhìn này
không thể lãnh đạm Người bắt đầu nói:
Những người có của thì khó vào Nước
Thiên Chúa biết bao!
Một lần nữa Đức Giêsu tố cáo quyền lực
ghê gớm của tiền tài. Đây là một sự cảnh giác thường xuyên trong suốt thời gian
rao giảng của Đức Giêsu: "Các ngươi không thể phục vụ Thiên Chúa và Mammon
cùng một lúc" (Lc 16, 13).
Người giàu trở nên điên rồ và phi lý.
Người ấy tưởng mình không cần gì đến Thiên Chúa nữa (Lc 12,16-20). Người giàu
từ từ đóng cửa con tim và không còn thấy người anh em của mình đang đau khổ bên
cạnh mình (Lc 16,19-31). Sự giàu sang bóp nghẹt Lời Chúa (Mt 13,22).
Một lần nữa, chúng ta không nên lên án
kẻ khác. Hãy nhận mình cũng là những người giàu: Số tiền trợ cấp thất nghiệp
của một người Pháp là cả một sản nghiệp đối với một người châu Phi hay châu Á.
Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ.
Sự kinh ngạc của những môn đệ không
phải là không có ý nghĩa. Tâm trạng người Do Thái đinh ninh rằng, sự giàu sang
là một ân huệ của Thiên Chúa, ý định của Thiên Chúa sáng tạo không phải là để
giao cho con người quyền sở hữu và thống trị thế gian này, nhằm xây dựng và làm
cho thế gian thêm giá trị sao? (St 1,27-31). Nhưng phải thú nhận rằng, chính
chúng ta cũng không chấp nhận lời này của Chúa Kitô. Thế kỷ 20 càng sẵn sàng
hơn để đón nhận luân lý cách mạng sau đây:
- Phải chăng chúng ta làm việc để
"kiếm tiền", càng nhiều càng tốt.
- Phải chăng chúng ta mong cho con cái
chúng ta làm một nghề "có nhiều tiền".
- Phải chăng hàng ngày chúng ta thường
bị sự quảng cáo tấn công, thúc đẩy chúng ta tiêu thụ ngày càng nhiều hơn và ám
chỉ rằng, càng có nhiều, càng hạnh phúc.
Nhưng Người lại tiếp: "Các con ơi,
vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ
hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa"
Thay vì rút lại sự cứng rắn trong lời
vừa nói, Đức Giêsu lại tăng cường một hình ảnh không thể quên được. Đức Giêsu
nhà thuyết giảng nổi tiếng, đã có nghệ thuật dùng những kiểu nói gây ấn tượng
mạnh và dễ nhớ: Chúng ta không nên làm nhẹ những câu nói này, nại cớ là chúng
nghịch lý. Thực sự, chúng nói lên mạnh mẽ rằng, giữa giàu sang và sự cứu rỗi,
luôn có tình trạng xung khắc nhau: Chúng ta phải chọn lựa giữa hai kho tàng
này, kho tàng trần gian, kho tàng trên trời. Tiền của là cần thiết. Đức Giêsu
không phủ nhận điều đó. Tiền của phục vụ chúng ta, Đức Giêsu đồng ý. Nhưng nếu
tiền của thống trị chúng ta, và chúng ta trở nên nô lệ của nó, thì Đức Giêsu
không thể chịu đựng nổi.
Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa và
nói với nhau: "Thế thì ai có thể được cứu?" Đức Giêsu nhìn thẳng vào
các ông và nói: "Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với
Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể
được"
Lại một lần nữa, cái nhìn của Đức
Giêsu, được ghi nhận lần thứ ba trong cùng một trang Tin Mừng. Ở đây Đức Giêsu
trích một lời trong Thánh Kinh dành cho Abraham (St 15,14). Mặc dầu tuổi cao,
không đủ điều kiện thể lý. Bà Xara sẽ sinh ra một con trai, vì tất cả có thể
được đối với Thiên Chúa. Thiên Thần Gabriel cũng đã nói điều này với Mẹ Maria
(Lc 1,37). Vậy sau khi lên án khắt khe thái độ chiếm hữu của chúng ta, Đức
Giêsu đã mở ra cho chúng ta một niềm hy vọng.
Lạy Chúa, là Chúa tể càn khôn, Chúa đòi
hỏi điều không thể làm được. Xin hãy đến giải thoát chúng con! Và tay chúng con
sẽ mở ra trước Chúa, để đón nhận những gì còn thiếu trong tình thương của chúng
con.
22. Chú giải của Fiches Dominicales.
ĐỨC GIÊSU GẶP NGƯỜI THANH NIÊN GIÀU CÓ.
NGUY HIỂM CỦA SỰ GIÀU SANG
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Từ ánh mắt Đức Giêsu nhìn người
thanh niên giàu có...
Bối cảnh của đoạn Tin Mừng này cũng
giống như Chúa nhật trước, đó là cuộc hành trình lên Giêrusalem, đây là dịp hai
lần, và còn lần thứ ba nữa, Đức Giêsu loan báo cuộc khổ nạn của Người. Khi Đức
Giêsu vừa lên đường có một người chạy đến trước mặt Người. B.Standaert nhận
xét: "Cuộc gặp gỡ với người thanh niên giàu có nêu lên một đề tài quan
trọng trong giáo huấn đầu tiên của Kitô giáo: vấn đề giàu có. Thánh sử đạo diễn
tấn kịch này hết sức cẩn thận. Từng nấc một, ông đã đưa người ta tiên dần đến
điểm giới hạn tột cùng: "Như vậy thì ai có thể được cứu: Có thể nói sự
giàu có là một vách đá vững chắc mà mỗi khi vỗ vào các đợt sóng cố gắng của con
người đành phải vỡ vụn, cho đến khi Thiên Chúa can thiệp: "Đối với Thiên
Chúa mọi sự đều có thể được" (10,27)
- Từ lúc đầu của cuộc gặp gỡ, mọi sự
báo trước một kết thúc may mắn:
+ Dáng vội vã của người thanh niên
"chạy đến" và "quỳ xuống" trước mặt Đức Giêsu, một cử chỉ
trong nghi thức phụng vụ.
+ Thái độ sẵn sàng nội tâm ta có thể
cảm nhận được qua câu hỏi anh đặt ra: "Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm
gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Trong câu trả lời của Đức Giêsu,
Người đã tự xóa nhòa trước Thiên Chúa duy nhất, khi nói chỉ mình Thiên Chúa mới
nhân lành, và dành ưu tiên cho mối tương quan với tha nhân, khi Người hướng dẫn
người thanh niên về lề luật Thiên Chúa: "Hẳn anh biết các điều răn: Chớ
giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai,
hãy thảo kính cha mẹ".
+ Lòng ngay thẳng và trung thực của anh
được bộc lộ qua câu trả lời Đức Giêsu: "Thưa Thầy, tất cả những điều đó,
tôi tuân giữ từ thuở nhỏ" J.Potin nhận xét: "Đức Giêsu biết mình gặp
được một người Do thái sống ngay thẳng trước mặt Thiên Chúa và luôn cố gắng tôn
trọng tha nhân trong mọi hoàn cảnh. Hẳn người này thuộc hạng người có phẩm chất
tốt hơn những người giàu có khác mà Chúa thường gặp" ("Jésus,
l'histoire vraie", Centurion, trang 233).
Bấy giờ Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh (lưu
ý là trong vài câu thôi mà Máccô đã nói tới ba lần về điểm này) và Người mời
anh. Lời mời gọi này là chóp đỉnh và khúc ngoặc quyết định vì cuộc gặp gỡ này.
+ Đức Giêsu "đưa mắt nhìn anh
ta" và "đem lòng yêu mến".
+ Một ánh mắt đầy âu yếm và quí trọng,
được diễn tả ngay thành một lời mời gọi tha thiết: "Anh chỉ còn thiếu có 1
điều là hãy bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng
trên trời. Rồi hãy đến theo tôi".
Đức Giêsu đề nghị dẫn anh đi xa hơn nữa
trên con đường tìm kiếm Thiên Chúa, con đường tuy gồ ghề, nhưng chỉ là nối tiếp
đường anh đã đi từ thuở nhỏ để được sụ sống đời đời làm gia nghiệp; đó là: từ
bỏ của cải để cho người nghèo.
Nhưng điều hoàn toàn mới nằm trong lời
mời gọi ở câu kết "Rồi hãy đến theo tôi" Đức Giêsu mời gọi người Do
thái trung thực này vượt lên khỏi đức tin của cha ông để gắn bó với Người, là
trở nên môn đệ của Người.
" Nghe lời đó", cuộc gặp gỡ
từ đầu đến đây đã diễn tiến đầy hứa hẹn, bỗng đột ngột chấm dứt: "Người
thanh niên sa sầm nét mặt, và buồn rầu bỏ đi", thánh sử cho ta biết, bởi
vì "anh ta có nhiều của cải".
Trên đường đi theo Đức Giêsu, người thanh
niên giàu có này gặp phải một chướng ngại, đó là lòng gắn bó với gia tài sản
nghiệp. Của cải như tấm kính mờ đã che lấp ánh sáng, lúc ánh sáng muốn thâm
nhập vào lòng anh. "Anh sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi". Đức Giêsu
đã đem lòng yêu mến anh. Nếu niềm hy vọng có một con đường dẫn thẳng tới Thiên
Chúa đã khơi dậy niềm vui to lớn thế nào thì giờ đây, thay vào đó, là một nỗi
buồn sâu xa không kém. (Sđd, trang 234).
2. Đến mắt Chúa nhìn các môn đệ
- Người thanh niên giàu có vừa đi khỏi,
Đức Giêsu liền đưa mắt nhìn các môn đệ đang "ở chung quanh Người".
+ Người tuyên bố: "những người
giàu có thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao". Người còn làm cho các môn
đệ sững sờ hơn khi nhấn mạnh theo kiểu phương Đông: "Con lạc đà chui qua
lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa".
+ J. Potin giải thích: "Các môn đệ
càng cảm thấy sửng sốt hơn nữa vì theo cách giữ đạo thời đó, thì càng giàu càng
có nhiều thuận lợi. Có tiền thì người giàu có thể dâng lễ vật cho Thiên Chúa
theo Luật buộc để được xá tội, có thể dâng cúng một phần mười tài sản mà các tư
tế đòi, hoặc có thể bố thí cho người nghèo. Dường như có một thoả thuận ngầm
giữa Thiên Chúa và những người giàu. Như vậy, giàu có của cải không phải là dấu
chỉ của người đẹp lòng Thiên Chúa đó sao?" (Sđd, trang 234).
Bởi đó mới có câu hỏi: Thế thì ai có
thể được cứu rỗi? Nếu người giàu không được cứu rỗi, thì còn ai có thể được? J.
Potin giải thích tiếp: "Nếu họ theo sát lối tư duy của đạo truyền thống,
những người không thể có đủ tiền mua những lễ vật dồi dào, không mua được những
bộ chén dĩa cần thiết để giữ luật lệ sạch sẽ; còn người giàu, họ có thể
mà!" (Sđd, trang 235).
+ Nhìn các môn đệ một lần nữa, Đức
Giêsu nói thêm: "Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với
Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể
được". Đây là lời tuyên xưng niềm tin cậy đã ghi một dấu ấn quan trọng
trong lịch sử Kitô giáo ngay từ buổi đầu. Thiên thần đã chẳng tuyên bố với
Apraham về việc Sara sẽ làm mẹ, dù bà hiếm muộn tuổi già: "Có phép lạ nào
mà Chúa không thể thực hiện được?". Thiên thần đã chẳng tuyên bố với Đức
Maria về việc bà Êlisabét sắp sinh con trong lúc tuổi già: "Bởi vì không
có gì mà Thiên Chúa không làm được" đấy sao? Chúng ta không được cứu nhưng
việc thực thi các lề luật, hoặc nhờ những của lễ sang quí giá, hay nhờ việc từ
bỏ, hy sinh anh hùng; ơn cứu độ là ân huệ cần phải đón nhận, chính Thiên Chúa
đưa ta vào Nước Trời, ân sủng cao cả của Người có thể làm nên những việc lạ
lùng. Câu nói trên của Đức Giêsu là một lời cổ vũ làm cho cái khó của sứ điệp
trước giảm nhẹ đi. Câu chuyện kết thúc khi Phêrô hỏi: "Thầy coi, chúng con
bỏ mọi sự mà theo Thầy"? Đức Giêsu hé mở cho thấy niềm vui 'trăm lần'
những gì đã từ bỏ, niềm vui ấy, bất cứ ai đã bỏ mọi sự vì Người và vì Tin Mừng
sẽ cảm nghiệm được ở đời này và đời sau. Nhưng Người cũng không che giấu những
cuộc bách hại đang chờ họ. J. Potin kết luận: "Người môn đệ phải tham gia
vào việc rao giảng Tin Mừng với Đức Giêsu. Nhưng cũng như Người, giữa niềm vui
về những điều thiện hảo của Nước Chúa, họ phải chuẩn bị để chịu đựng những cuộc
bách hại. Ngay từ buổi đầu Đức Giêsu đã đào tạo họ theo chiều hướng này! Phạm
trù để phán xử đều bị đảo lộn, người giàu mà ta trông thấy đang ở chỗ nhất
trong Nước Trời, nay bị đưa xuống chỗ rốt hết. Còn môn đệ và người nghèo được
mời lên ngồi vào chỗ nhất, sau khi đã cùng Thầy mình trải qua thử thách của sự
bách hại". (Sđd, trang 235).
BÀI ĐỌC THÊM.
1. Con đường khó đi
Đức Giêsu lên đường. Ta sẽ biết con
đường ấy dẫn đến đâu: "Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị
nộp...". Ngay lúc ấy, có một người đến tìm Người. Anh ta đi tìm sự sống,
sự sống đời đời. Anh ta đã nghiêm túc tìm kiếm bằng con đường tuân giữ các giới
răn: "Tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ". Anh ta cảm
thấy cần phải tiến xa hơn, nên đến hỏi Chúa: "Tôi phải làm gì?". Và
Đức Giêsu đem lòng yêu mến anh. Người yêu mến sự tìm kiếm và lòng quảng đại của
anh. Người chỉ đường cho anh: "Anh chỉ còn thiếu một điều: hãy đi bán
những gì anh có..." Nhưng con đường này làm người thanh niên khiếp sợ bởi
vì anh ta có nhiều của cải? Con đường này cũng khiến các môn đệ khiếp sợ vì họ
đã bỏ mọi sự mà theo Chúa: "Như vậy thì ai có thể được cứu?" Bấy giờ,
Đức Giêsu mời gọi nhìn vào cái vô hình. Người bảo đảm với người thanh niên:
"Anh sẽ được kho tàng ở trên trời? Nói với Phêrô, Người hứa ban "gấp
trăm lần" và mai sau được sống đời đời. Như Đức Giêsu, số phận của các môn
đệ được sắp đặt trên nền tảng của sự vĩnh cửu. Vật đặt cược chính là sự sống
đời đời. Và cái khó ở đây là phải ưu tiên cho cái vô hình trước cái hữu hình ta
đang có. "Đối với loài người thì không thể được". Đây là một cuộc
Vượt qua của Đức Giêsu. Đức Giêsu sắp hy sinh mạng sống. Người mời gọi ta theo
Người, từ bỏ mọi sự vì Người và vì Tin Mừng. Hy sinh mạng sống vì những điều
này cũng đáng lắm, nhưng thực hiện cuộc vượt qua này trong đức tin và không có
cái hữu hình lôi cuốn mình là điều không phải dễ. Chỉ có quyền năng Thiên Chúa
mới có thể thực hiện điều đó nơi ta: đối Thiên Chúa mọi sự đều có thể được?
Nhưng còn cần ta để cho Người thực hiện.
2. Bước vào con đường khôn ngoan đích
thực, khôn ngoan của Thiên Chúa.
Đức Kitô là Sự Khôn Ngoan Thiên Chúa
nhập thể. Ai đặt tin tưởng vào Đức Kitô, thì từ nay sẽ không theo sự khôn ngoan
nào ngoài Lời của Đức Kitô. Thư gởi tín hữu Do Thái dạy ta điều này rất rõ. Đối
với người Kitô hữu, Đức Kitô, Lời chân thật của Thiên Chúa trở nên một tiêu
chuẩn tối hậu để nhận biết sự khôn ngoan đích thực. Bởi vậy, lời của Đức Giêsu
tuy có vẻ điên rồ trong cách suy luận của ta, nhưng vẫn là lời khôn ngoan hơn bất
cứ danh ngôn phàm trần nào.
Chính điều đó đã thể hiện trong truyện
người thanh niên giàu có theo Tin mừng Máccô. Anh chạy đến Đức Giêsu. Anh đi
tìm sự khôn ngoan. Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?
Đức Giêsu nói theo lương tâm đạo đức ngay thẳng của ngươi thời đó, Người nhắc
nhở anh về những giới răn của luật Môsê. Nhưng tất cả các giới răn đó anh đã
giữ cặn kẽ từ nhỏ. Nếu anh đến tìm Chúa, là vì anh khao khát điều gì khác, điều
mà việc tuân giữ các giới răn đã không thoả mãn được.
Đức Giêsu chăm chú nhìn anh. Trước khát
vọng của anh, Người ban cho anh một thời mới mẻ. Người mở ra trước mắt anh một
con đường, mà dù có trung thành cặn kẽ mấy đi nữa, anh cũng không nghĩ ra.
Người đề nghị với anh một điều có vẻ điên rồ trước mắt người đời: Hãy đi bán
những gì anh có mà cho người nghèo, rồi hãy đến theo Tôi.
Ta chỉ hiểu những lời này qua hệ luỵ
chúng gây ra trong cuộc sống của ta thôi. Nào là bỏ tất cả, mất tất cả, bán tất
cả, cho tất cả. Nhưng điều quan trọng không ở đó. Điều quan trọng nằm ở phần
thứ hai của câu nói: Rồi hãy đến theo Tôi! Theo Đức Giêsu là theo Lời Thiên
Chúa, là theo Sự Khôn Ngoan Thiên Chúa. Theo Đức Giêsu là muốn Sự Khôn Ngoan
Thiên Chúa hơn tất cả mọi sự. Chỉ có lòng yêu mến như vậy, tuy không thấy,
không nắm bắt được, mới biện minh cho hành vi từ bỏ tất cả mọi sự được. Khốn
nỗi, việc mất đi mọi sự che lấp chân trời rộng mở, cản trở ta cảm nghiệm được
Sụ Khôn Ngoan đích thực của Thiên Chúa. Theo Đức Giêsu là dám liều mất tất cả.
Và đó là điều Chúa đòi hỏi. Bạn có đủ tin tưởng vào Tôi để nghe theo lời tôi
khuyên nhủ không? Thực sự, bạn chỉ cảm nghiệm được giá trị của nó sau này thôi!
Còn lúc này, bạn có thể tin tôi không, khi tôi nói rằng bạn sẽ được thoả lòng?
Thật ra, Đức Giêsu đặt người thanh niên
vào đúng vị trí của ông Apraham. Cha của Người trong đức tin. Người đề nghị với
anh hãy tin và hãy tín nhiệm vào Lời vừa đòi hỏi vừa hứa hẹn.
Tin Mừng thuật rằng: người thanh niên
bỏ ra về, bởi vì anh có nhiều của cải. Và Tin Mừng cũng nói rõ thêm: Anh sa sầm
nét mặt. Niềm vui đã tan biến. Khát vọng chân thật mà người thanh niên bộc lộ
lúc ban đầu gặp Chúa, bây giờ tàn lụi, tắt ngấm. Nó không còn có thể làm nẩy
sinh niềm vui đến từ lòng khát vọng sống động.
Trình thuật này được viết ra không phải
để chúng ta buồn lòng về trường hợp người thanh niên ấy, nhưng để Lời Chúa đánh
động tâm hồn ta. Lời Chúa cũng muốn vươn tới khát vọng chân thật của ta, cũng
muốn khát dậy đức tin chân thật nơi ta, Người muốn đưa ta vào con đường khôn
ngoan chân thật, là Khôn Ngoan của Thiên Chúa.
CN 28 TN – B VINH CUU VA TAM THOI
(Mc 10, 17 –
30)
Thế giới ngày
hôm nay có đầy sự hấp dẫn, khiến người ta thích những gì là tạm bợ, và không
thích những gì là bền vững.
Trong cuộc gặp
gỡ các chủng sinh, khấn sinh và tập sinh tại hội trường Phaolô VI, Đức Thánh
Cha Phanxicô kể, ngài đã nghe một chủng sinh, một chủng sinh tốt lành nói rằng
anh muốn phục vụ Đức Kitô, nhưng chỉ 10 năm thôi, và rồi anh sẽ nghĩ đến việc
bắt đầu một cuộc sống khác... và ngài kết luận, thật nguy hiểm! Tuy tạm thời,
nhưng điều này thật nguy hiểm bởi vì ta không đánh cược đời mình một lần cho
tất cả. Tôi kết hôn chừng nào còn yêu; tôi sẽ là một nữ tu nhưng chỉ trong một
"thời gian ngắn" thôi, trong "một khoảng thời gian nào đó"
và tôi sẽ tính tiếp, tôi không biết câu chuyện sẽ kết thúc thế nào. Thế này thì
không phải với Đức Giêsu! Đúng là cái thứ văn hóa tạm thời, nó không làm cho
chúng ta nên tốt đẹp: bởi vì đưa ra một lựa chọn dứt khoát ngày nay thật là
khó. Chúng ta là những nạn nhân của nền văn hóa tạm thời này.
Cái tạm thời
đã cản trở chàng thanh niên
Chành thanh
niên trong Tin Mừng là ai? Là con nhà giàu có. Nói theo ngôn ngữ ngày hôm nay
thì anh ta là một thiếu gia. Nhưng một thiếu gia có lối sống gương mẫu, không
bồ bịch lăng nhăng, không đua đòi ăn diện. Anh rất thành tâm thiện chí tuân giữ
cả Mười Giới Răn một cách nghiêm túc từ thủa nhỏ, không ai chê trách được điều
gì. Tắt một lời, anh là người hết sức gương mẫu trong việc chu toàn các đòi hỏi
của Mười Điều Răn.
Hơn thế nữa,
anh còn là một người nhiệt huyết và cầu tiến, không bằng lòng với cuộc sống
hiện tại, nên anh thao thức đi tìm kiếm con đường trọn lành, để hoàn thiện.
Chính vì những đức tính đó mà anh được Chúa Giêsu đem lòng thương mến. Người
còn muốn mời gọi anh tiến xa thêm một bước nữa trên đường hoàn thiện. Đó là đem
bán tất cả của cải là cái tạm thời và đem bố thí cho người nghèo để được kho
tàng trên trời là cái vĩnh cửu, rồi đến theo Chúa Giêsu làm môn đệ của Người.
Tin Mừng cho biết: "Anh sù nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều
của cải" (Mc 10,22). Vậy là, cái tạm thời đã rào cản anh.
Vượt qua rào
cản
Chàng thanh
niên trong Tin Mừng hôm nay thật tuyệt vời. Nếu xưa nay người ta cứ tưởng có
một đời sống luân lý hoàn hảo đã đủ bảo đảm về mặt đạo đức, tiền bạc dư thừa
bảo đảm về mặt vật chất, thì anh vẫn mang trong mình khát vọng sống đời đời cho
dù anh đã thủ đắc trong tay toàn bộ những thứ đó.
Để biến khát
vọng thành hiện thực, anh đã tìm đến với Đức Giêsu là Đấng mà anh gọi là nhân
lành. Đức Giêsu đã chỉ cho anh : "Hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí
cho người khó khó" (Mc 10,17). Bán sạch tài sản mà cha mẹ anh và chính anh
đã vất vả tích lũy một đời bằng mồ hôi nước mắt; đã thế, còn đem bố thì hết cho
người nghèo, còn mình trở nên trắng tay mà có sự sống đời đời sao ?Một lời mời
gọi mới khó làm sao!
Đây là một rào
cản anh phải vượt qua, trở nên nghèo vì người nghèo. Vì chính lúc nghèo như
thế, "anh có một kho báu trên trời" (Mc 10, 21). Kho báu đó đang hiện
diện ngay trước mặt anh. Thế nên, Đức Giêsu mới nói : "Rồi đến theo
Ta" (Mc 10,21). Đức Giêsu là một giá trị vượt trên tất cả những của cải
trần gian, vì Người là "sức mạnh và sự không ngoan của Thiên Chúa"
(1Cr 1,24). "Trong Người có cất giấu một kho tàng của sự khôn ngoan và
hiểu biết" (Cl 2, 3). Gia tài của chàng thanh niên có là gì so với Đức Khôn
Ngoan ? Nếu biết Đức Giêsu là Đức Khôn Ngoan hiện thân, có lẽ anh sẽ nói như
tác giả sách Khôn Ngoan : "Đem so sánh sự giầu sang với sự không ngoan,
tôi kể sự giầu sang như không" (Kn 7, 8). Chàng thanh niên chưa vượt qua
được rào cản về tài sản, nên anh mới kinh ngạc về đề nghị và lời mời gọi của
Đức Giêsu.Nguyên nhân khiến anh chấp nhận mãi mãi "thiếu một điều",là
do chính của cải, tài sản mà anh đang có.
Chọn chung kết
Chàng thanh
niên giàu có không muốn bỏ cái tạm bợ là sự giàu sang để đi theo Chúa Giêsu, sự
giàu sang và của cải là một cản trở làm cho hành trình tiến về nước Thiên Chúa
trở nên khó khăn. Chính Chúa tuyên bố : "Những người giầu có vào nước
Thiên Chúa khó biết bao" (Mc 10, 23). Chúa biết khó, nhưng Người vẫn mời
gọi chúng ta từ bỏ, vì Nước Trời có giá trị lớn lao, đòi hỏi con người phải trả
giá. Vì chưng giữ đạo không chỉ dừng lại ở chỗ ăn ngay ở lành, chu toàn các đòi
hỏi của luân lý, không làm điều xấu...mà quan trọng hơn, đó còn là tin nhận và
dấn bước theo một con người, người đó là Đức Giêsu Kitô. Nói khác đi, sự hoàn
thiện theo Tin Mừng hệ tại ở điều này: bước theo Chúa Kitô để làm môn đệ của
Người.
Thực ra, tiền
bạc không phải là một sự dữ. "Có của" không đương nhiên là xấu, thái
độ khi "có của" mới xác định giá trị con người. Giáo hội từng có
những vị thánh xuất thân từ ngai vàng như vua Louis nước Pháp, vua Stêphan nước
Hungari. Giữa đống tiền của, họ vẫn lắng nghe tiếng Chúa và dấn thân cho người
nghèo.
Của cái là
phúc lành của Thiên Chúa như sách Châm ngôn viết : "Chính phúc lành của
Đức Chúa cho ta được giầu sang" (Cn10, 22) ; "Chúa bắt phải nghèo và
cho giầu có" (1Sm 2,7). Người giầu cũng không bị kết án vì có nhiều tiền
của. Chính Đức Giêsu cũng giao du với những người giầu sang quyền quí như
Giakêu, Nicôđêmô, Matthêu v.v...
Như vậy, tiền
bạc và sự giầu sang không phải là đối tượng nguyền rủa. Đức Giêsu muốn chúng ta
dùng nó làm bàn đạp để bước lên bậc hoàn thiện chiếm được nước trời có Chúa làm
gia nghiệp đời ta. Amen.
Lm. Antôn
Nguyễn Văn Độ
Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét